Siêu máy bay của Airbus bị nứt cánh

Trong khi hãng Airbus một mực cho rằng các vết nứt trên cánh loại máy bay khổng lồ A380 không nguy hiểm, giới kỹ sư hàng không Australia kêu gọi dừng sử dụng loại máy bay này ngay lập tức.

Mới đây, các kỹ sư của hàng không Australia đã lên tiếng yêu cầu ngừng bay đối với chiếc máy bay chở khách lớn nhất thế giới A380, sau khi một số hãng hàng không liên tục phát hiện các vết nứt trên cánh loại máy bay này.

“Chúng ta không thể tiếp tục đánh cược với tính mạng hành khách, cũng như không thể cho phép những chiếc máy bay lỗi cất cánh trên bầu trời”, ông Steve Purvinas, Thư ký Hiệp hội Kỹ sư Hàng không Australia tuyên bố.

Trước đó, hôm thứ sáu tuần trước, hãng hàng không Singapore Airlines (SIA) và Qantas Airways tuyên bố phát hiện những vết nứt trên cánh chiếc máy bay Airbus A380 do các hãng này đang sở hữu.

“Trong quá trình kiểm tra vào nửa cuối năm ngoái, chúng tôi tìm thấy các vết nứt trên cánh một số ít máy bay Airbus A380. Không có cảnh báo đặc biệt nào về độ an toàn và công việc sửa chữa đã được tiến hành sau đó”, người phát ngôn của hãng hàng không SIA cho biết.

Tương tự, hãng Qantas cũng cho biết có những vết nứt nhỏ trên cánh chiếc máy bay A380 của hãng, vốn đang sửa chữa tại Singapore sau khi một động cơ Rolls-Royce Trent 900 bị trục trặc vào năm 2010. “Kết quả điều tra cho thấy các vết nứt không liên quan gì đến sự cố động cơ”, hãng Qantas tuyên bố.

Ngay cả hãng Airbus cũng phải thừa nhận rằng một số chiếc A380 dính sự cố nứt cánh. Tuy nhiên, Airbus một mực cho rằng độ an toàn vẫn trong tầm kiểm soát. “Chúng tôi đã mở cuộc điều tra về nguyên nhân của các vết nứt này. Dự kiến chúng sẽ được xử lý trong quá trình bảo dưỡng định kỳ sắp tới”. người phát ngôn của hãng cho biết.

Chính thức đưa vào vận hành từ 5 năm nay, chiếc A380 được mệnh danh là “siêu máy bay chở khách” với kích cỡ lớn, chở được 525 hành khách với 3 hạng ghế.

Hiện tại, có 67 chiếc Airbus A380 đang bay tại 7 hãng hàng không trên toàn thế giới, bao gồm hãng Qantas, Singapore Airlines, Emirates, Air France, Lufthansa, Korean Airlines và China Southern.

Singapore Airlines, hãng hàng không lớn thứ hai thế giới, có 14 chiếc A380 đang hoạt động và 5 chiếc đặt hàng chưa về. Còn hãng Qantas đã nhận 10 chiếc, trong tổng số 20 chiếc đặt hàng từ hãng Airbus.

Tính tổng cộng, hãng Airbus đã nhận được 238 đơn đặt hàng đối với loại máy bay này. Trụ sở của hãng ở Toulouse, Pháp, tuy nhiên các bộ phận của chiếc máy bay được sản xuất từ khắp nơi trên đất châu Âu. Ví dụ như cánh máy bay được sản xuất tại Broughton, xứ Wales.

Theo vnexpress

Xem Thêm

Mỹ phạt 21 hãng hàng không vì bắt tay tăng giá vé

Bộ Tư pháp Mỹ ngày 5-3 cho biết đã phạt 21 hãng hàng không với số tiền kỷ lục lên tới 1,7 tỷ USD do những sai phạm liên quan đến việc ấn định giá vé và cước vận chuyển hàng hóa.

Ngoài ra, 19 giám đốc điều hành các hãng hàng không này cũng bị buộc tội làm sai trái, trong đó có bốn người đã phải vào tù. Đây được coi là một trong những vụ án chống độc quyền hình sự lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Trong số những hàng hàng không bị phạt nói trên có một số hãng nổi tiếng thế giới như British Airways, Korean Air và Air France-KLM… song không có hãng hàng không lớn nào của Mỹ nằm trong danh sách này.

Cáo trạng của Bộ Tư pháp Mỹ nêu rõ khi đối mặt với cuộc suy thoái cách đây một thập kỷ, nhằm tránh bị phá sản, các giám đốc điều hành của những hãng hàng không này đã bắt tay với nhau, xây dựng một cơ chế ấn định giá cả từ năm 2000-2006.

Điều này khiến cho giá vé và các khoản phụ thu nhiên liệu hàng hóa tăng lên, làm các doanh nghiệp và người tiêu dùng Mỹ, chủ yếu là các hành khách trên các chuyến bay quốc tế, và các công ty vận chuyển hàng hóa, bị thiệt hại hàng trăm triệu USD.

Trước đó, vào cuối năm 2005, các quan chức của Hãng hàng không Lufthansa của Đức đã thông báo với Bộ Tư pháp Mỹ về việc bị lôi kéo vào phi vụ này.

Ngày 14/2/2006, các điều tra viên của Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) và các đồng nghiệp ở châu Âu bắt đầu nhập cuộc với việc bắt giữ và khám xét hàng loạt văn phòng của các hãng hàng không. Sau đó, các cơ quan chức năng đã thu giữ được nhiều tài liệu chi tiết về việc “đi đêm” giữa các hàng hàng không này.

Cuộc điều tra đã được mở rộng sang các hãng hàng không hiện đang kinh doanh trên các tuyến đường hàng không giữa Mỹ với châu Âu, châu Á, khu vực Nam Mỹ và Australia.

Theo TTXVN

Xem Thêm

Hãng hàng không Deutsche Lufthansa

Deutsche Lufthansa AG là hãng hàng không lớn nhất nước Đức và lớn thứ hai châu Âu sau hãng Air France-KLM, nhưng xếp trên British Airways. Tên của hãng lấy từ Luft (trong tiếng Đức có nghĩa là “không khí”) và Hansa (theo Liên minh Hanse, nhóm buôn bán mạnh nhất thời trung cổ).

Lufthansa đặt hành dinh ở Cologne. Trung tâm hoạt động tại Sân bay quốc tế Frankfurt ở Frankfurt am Main. Một trung tâm thứ hai của hãng đặt ở Sân bay quốc tế Munich. Sau khi hãng thôn tín Swiss International Air Lines, Sân bay Zürich trở thành trung tâm thứ 3.

Lufthansa là thành viên sáng lập của Liên minh Star Alliance, liên minh hàng không lớn nhất thế giới, vốn được thành lập vào năm 1997, hiện tại (2010) đang có 18 hãng thành viên. Lufthansa Group hoạt động hơn 400 máy bay và hơn 100.000 nhân viên trên khắp thế giới. Năm 2006, 53.4 triệu hành khách bay với Lufthansa. Đến năm 2008, phát triển lên 70.5 triệu hành khách bay với Lufthansa, không bao gồm Germanwings, BMI, Austrian Airlines và Brussels Airlines.

Hình thành

Hãng được thành lập đầu tiên vào ngày 1 tháng 6 năm 1926 tại Berlin với tên ban đầu là Deutsche Luft Hansa Aktiengesellschaft, sau sự sát nhập giữa “Deutsche Aero Lloyd” và “Junkers Luftverkehr”. Ngày 9 tháng 12 năm 1927, Deutsche Luft Hansa đã thay mặt cho chính phủ Đức lập nên một thỏa thuận với chính phủ Tây Ban Nha về việc thiết lập dịch vụ bay giữa hai nước. Thỏa thuận này bao gồm cả việc đầu tư vốn để thành lập một hãng hàng không, là tiền thân của hãng Iberia sau này. Năm 1933, hãng lần đầu tiên sử dụng tên giao dịch Lufthansa.

Trước Thế chiến thứ hai, hãng đã từng thiết lập đường bay tới Đông Nam Á cũng như bay xuyên qua Đại Tây Dương sử dụng máy bay của Dornier, Junkers, Heinkel, Focke-Wulf và các máy bay khác của Đức. Hãng cũng có liên quan tới việc thành lập một số hãng hàng không Nam Mỹ thông qua công ty con là Condor Syndikat. Sau khi chiến tranh bùng nổ, Lufthansa chỉ duy trì đường bay tới các nước trung lập. Sau khi nước Đức bị chia cắt năm 1945, tất cả các đường bay của Lufthansa đều bị ngưng.

Tái lập

Vào ngày 6 tháng 1 năm 1953, Lufthansa được khôi phục lại dưới tên gọi Aktiengesellschaft für Luftverkehrsbedarf (Luftag) và được đổi thành Deutsche Lufthansa Aktiengesellschaft vào ngày 6 tháng 8 năm 1954. Ngày 1 tháng 4 năm 1955, Lufthansa khôi phục lại các đường bay trong phạm vi Tây Đức. Các đường bay quốc tế cũng nhanh chóng được lập lại với các chuyến bay trong châu Âu. Đường bay tới New York cũng được thành lập vào ngày 8 tháng 6 năm 1955, sử dụng máy bay của Lockheed Super Constellations. Các đường bay tới nam Đại Tây Dương cũng được thiết lập lại vào tháng 8 năm 1956.

Năm 1958, Lufthansa đặt hàng 4 chiếc Boeing 707 để phục vụ các chuyến bay từ Frankfurt đi New York vào tháng 3 năm 1960. Tháng 2 năm 1961, các đường bay tới Đông Nam Á được mở rộng tới Hong Kong và Tokyo sau đường bay tới Bangkok. Năm 1962 hãng cũng triển khai các đường bay tới Lagos và Johannesburg.

Năm 1964, Lufthansa đưa máy bay Boeing 727 vào phục vụ và trong tháng 5 năm đó, hãng đã thực hiện tuyến bay qua Bắc cực (Polar route) từ Frankfurt đi Tokyo. Tháng 2 năm 1965, hãng đã đặt hàng 20 máy bay Boeing 737 tầm trung, các máy bay này được đưa vào khai thác năm 1968. Lufthansa là một trong 4 hãng đầu tiên trên thế giới đặt hàng máy bay Boeing 737 thân rộng và là hãng nước ngoài đầu tiên khai thác loại máy bay thương mại chở khách này.

Kỷ nguyên máy bay thân rộng của Lufthansa được bắt đầu vào ngày 26 tháng 4 năm 1970 với việc khai trương các chuyến bay bằng máy bay Boeing 747. Năm 1971, Lufthansa bắt đầu thực hiện các chuyến bay tới Nam Phi. Năm 1979 máy bay Airbus A310 được Lufthansa và Swissair khai thác với một đơn đặt hàng 25 chiếc.

Chương trình hiện đại hóa đội bay cho thập niên 90 được bắt đầu vào ngày 29 tháng 6 năm 1985 với một đơn đặt hàng gồm 15 chiếc Airbus 320, 7 chiếc Airbus A300-600. Một vài ngày sau đó, hãng cũng đặt hãng 10 chiếc Boeing 737-300. Các máy bay này được giao trong khoảng năm 1987 đến 1992. Lufthansa cũng mua thêm máy bay Airbus A321 và Boeing 747-400.

Từ hãng hàng không của nước Đức…

Vào ngày 28 tháng 10 năm 1990, 25 ngày sau ngày nước Đức thống nhất, Berlin trở thành điểm đến của Lufthansa. Ngày 18 tháng 10 năm 1997 Lufthansa cùng với Air Canada, Scandinavian Airlines, Thai Airways và United Airlines sáng lập ra liên minh hàng không đầu tiên trên thế giới Star Alliance.

Năm 2000, Air One trở thành đối tác của Lufthansa và hầu hết các chuyến bay của Air One được thỏa thuận chỗ với Lufthansa. Tháng 6 năm 2003, Lufthansa mở nhà ga số 2 tại sân bay quốc tế Franz Josef Strauß, Munich nhằm giảm bớt sự quá tải của sân bay quốc tế Frankfurt. Đây là một trong những nhà ga hành khách đầu tiên ở châu Âu do một hãng hàng không sở hữu

…Trở thành tập đoàn hàng không quốc tế

Ngày 22 tháng 3 năm 2005, SWISS sát nhập với Lufthansa. Tuy nhiên cả hai hãng đều tiếp tục hoạt động độc lập.

Ngày 6 tháng 6 năm 2006 Lufthansa đặt hàng 20 chiếc Boeing 747-8, trở thành hãng vận chuyển lớn nhất của loại máy bay này. Hãng này cũng là hãng hàng không châu Âu thứ hai (sau Air France) khai thác máy bay Airbus A380, sau khi được bàn giao loại máy bay này vào ngày 19 tháng 5 năm 2010.

Ngày 14 tháng 12 năm 2006, Lufthansa và hãng hàng không giá rẻ của Mỹ Jetblue bắt đầu quá trình liên doanh thông qua việc Lufthansa mua lại 19% cổ phần của hãng này. Đây là lần đầu tiên một hãng hàng không của châu Âu đầu tư vào một hãng hàng không Hoa Kỳ sau khi thỏa thuận bầu trời mở giữa EU và Hoa Kỳ có hiệu lực vào năm 2008.

Ngày 15 tháng 9 năm 2008, Lufthansa nắm giữ 45% cổ phần của hãng Brussels Airlines và sẽ nắm giữ nốt 55% còn lại từ 2011. Theo thỏa thuận này, Brussels Airlines trở thành thành viên của Star Alliance vào tháng 12 năm 2009.

Ngày 28 tháng 10 năm 2008, Lufthansa thực hiện mua 60% cổ phần của hãng BMI. Với việc nắm giữ 20% cổ phần còn lại từ Scandinavian Airlines, Lufthansa đã sở hữu hoàn toàn BMI từ ngày 1 tháng 11 năm 2009

Tháng 11 năm 2008, Lufthansa và Austrian Airlines đạt được một thỏa thuận trong đó Lufthansa sẽ mua lại phần lớn cổ phần từ chính phủ Áo. Thỏa thuận này hoàn thành vào tháng 1 năm 2009. Cũng trong tháng này, Lufthansa công bố rằng hãng đang đàm phán với Scandinavian Airlines System về việc sát nhập giữa hai hãng.

Các công ty thành viên

Các hãng hàng không:

Air Dolomiti, một hãng hàng không có trụ sở tại Ronchi dei Legionari, Ý, được sở hữu hoàn toàn bởi Lufthansa.
Austrian Airlines, hãng hàng không quốc gia của Áo, trụ sở tại Schwechat, Áo, được sở hữu hoàn toàn bởi Lufthansa.
BMI, một hãng hàng không của Anh, được sở hữu hoàn toàn bởi Lufthansa.
Brussels Airlines, hãng hàng không quốc gia của Bỉ.
Edelweiss Air, một thành viên của SWISS.
Eurowings một hãng hàng không địa phương của Đức.
Germanwings, được sở hữu hoàn toàn bởi Lufthansa.
Jade Cargo International, liên doanh hàng không, Lufthansa Cargo chiếm 25% cổ phần
JetBlue Airways, liên doanh hàng không, Lufthansa chiếm 19% cổ phần
Lufthansa Cargo
Lufthansa CityLine
Lufthansa Italia, một nhánh mới của Lufthansa, khai thác các đường bay từ Milan
Luxair – Lufthansa giữ 13% cổ phần.
SunExpress, hãng hàng không có trụ sở tại Antalya, Thổ Nhĩ Kỳ
Swiss International Air Lines, hãng hàng không quốc gia Thụy Sĩ có trụ sở tại Basel

Các đơn vị khác:

Delvag, công ty bảo hiểm hàng không
Global Load Control
LSG Sky Chefs
Lufthansa Flight Training
[[Lufthansa Regional]
Lufthansa Systems
Lufthansa Technik

Điểm đến

Lufthansa có mạng đường bay tới 18 điểm đến trong nước và 185 điểm đến quốc tế tại 78 nước tại châu Á, châu Âu, châu Phi và châu Mỹ. Bao gồm cả các đường bay được khai thác bởi Lufthansa City Line, Lufthansa Regional, Cirrus Airlines và Privatair

Các chuyến bay chặng dài

Khoang hạng nhất: Khoang hạng nhất của Lufthansa có trên máy bay Boeing 747, Airbus A330 và Airbus A340. Mỗi ghế ngồi đều có thể chuyển thành một giường nằm rộng 2m, có ổ cắm laptop và các công cụ giải trí khác. Bữa ăn được phục vụ theo yêu cầu. Lufthansa có quầy check-in dành cho khách hạng nhất tại hầu hết các sân bay cũng như phòng chờ hạng nhất tại sân bay Frankfurt và Munich. Tại sân bay Frankfurt, khách hạng nhất sẽ sử dụng nhà ga dành riêng cho khách hạng nhất.

Khoang hạng thương gia: Dịch vụ hạng thương gia có trên tất cả các chuyến bay đường dài của Lufthansa. Mỗi ghế ngồi đều có thể duỗi ra thành một giường nằm dài 2m, có ổ cắm laptop và các công cụ giải trí khác. Lufthansa có quầy check-in dành cho khách hạng thương gia cũng như phòng chờ hạng thương gia tại tại tất cả các sân bay.

Hạng phổ thông: Khách hàng hạng phổ thông đễu được phục vụ suất ăn và đồ uống miễn phí. Năm 2007, Lufthansa bắt đầu cung cấp màn hình cá nhân trên mỗi ghế ngồi.

Các chuyến bay trong châu Âu

Hạng thương gia: Dịch vụ hạng thương gia trên các chuyến bay chặng ngắn của Lufthansa được phục vụ trên máy bay A319, A320, A321 và B737. Hành khách sẽ được phục vụ bữa ăn và đồ uống cũng như sử dụng quầy check-in và phòng chờ hạng thương gia. Trên tất cả các chuyến bay chặng ngắn, dịch vụ giải trí trên chuyến bay không được phục vụ.

Hạng phổ thông: Được phục vụ trên tất cả các chuyến bay chặng ngắn của Lufthansa. Hành khách được phục vụ đồ uống và bữa ăn nhẹ.

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Turkish Airlines được cấp thương quyền chặng TP.HCM – Bangkok

Hãng hàng không quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ Turkish Airlines vừa được phép chuyên chở và bán vé cho hành khách chặng TP.HCM – Bangkok và ngược lại. Chặng TP.HCM – Bangkok (Thái Lan) đang trở thành chặng bay rất cạnh tranh khi có nhiều hãng hàng không khai thác.

Giám đốc công ty du lịch Hương Giang, tổng đại lý hãng hàng không Turkish Airlines tại VN Ngô Minh Đức cho biết hãng này vừa được Cục hàng không dân dụng Thái Lan cấp thương quyền cho chặng bay Bangkok-TP.HCM. Trước đó Cục hàng không dân dụng VN cũng cấp thương quyền đường bay này cho hãng Turkish Airlines.

Theo đó, hãng hàng không này sẽ được quyền bán vé máy bay cho hành khách chặng TP.HCM – Bangkok (ngược lại) thay vì chỉ được chở hành khách bay từ TP.HCM-Istambul (Thổ Nhĩ Kỳ) quá cảnh chờ tại sân bay Bangkok (hành khách ngồi chờ trên máy bay).

Hãng Turkish Airlines đang khai thác đường bay Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) đến TP.HCM (ngược lại) với tần suất 4 chuyến/tuần. Các chuyến bay từ TP.HCM khởi hành lúc 20g55 các ngày thứ ba, năm, bảy, chủ nhật và quá cảnh tại Bangkok (Thái Lan) khoảng 80 phút sau đó bay sang Istanbul.

Tính đến thời điểm này, đường bay TP.HCM – Bangkok đang có các hãng hàng không Vietnam Airlines, Thai Airways, Air Asia, Lufthansa, Turkish Airlines…với tổng cộng hơn 90 chuyến bay/tuần.

Theo tuoitre.vn

Xem Thêm

Cuộc chiến hàng không 2010

Những gã khổng lồ trong ngành vận chuyển hàng không thuộc châu Âu đang lo ngại trước sự phát triển rất nhanh và mạnh của các hãng ở Vùng Vịnh. Từ British Airways qua Lufthansa đến Air France đều đã lên tiếng. Hôm nay, ngày 15.10, lãnh đạo cao cấp của các hãng này sẽ họp tại Brussells bàn biện pháp đối phó.

Xem Thêm

Airbus A380

Airbus A380 là một loại máy bay hai tầng, bốn động cơ do Airbus S.A.S. sản xuất. Nó bay thử lần đầu tiên vào ngày 27 tháng 4 năm 2005 từ Toulouse, Pháp. Sau 15 tháng thử nghiệm, đã bắt đầu có các chuyến bay thương mại vào đầu năm 2007 khi Airbus chuyển giao máy bay đầu tiên để đi vào sử dụng cho Singapore Airlines. Trong hầu hết quá trình thiết kế và chế tạo, chiếc máy bay này được gọi là Airbus A3XX, và tên hiệu Superjumbo cũng đã trở thành một tên gọi khác của A380. Ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác, các phương tiện truyền thông đại chúng lẫn các chuyên gia ngành kỹ thuật, hàng không còn đặt biệt danh khác cho loại máy bay này là “Khách sạn bay 5 sao” vì đây là loại máy bay dân dụng duy nhất trên thế giới có các phòng ngủ với giường nệm, nhà hàng, quầy bar, phòng tắm spa, phòng giải trí sang trọng, các TV LED tại các phòng và các ghế hành khách với hơn 500 kênh truyền hình trên toàn thế giới, hơn 1000 game 3D và hàng chục nghìn bài hát, bản nhạc, phim ảnh được lưu trữ trên máy bay, hệ thống mạng Wifi tốc độ cao, khe cắm USB kết nối với máy tính, khe cắm phích sạc pin điện thoại để phục vụ mục đích giải trí và làm việc.

Máy bay A380 có hai tầng, với tầng trên kéo dài toàn bộ chiều dài của thân máy bay. Điều này cho phép một khoang cabin rộng rãi, cấu hình tiêu chuẩn với ba cấp hành khách có thể đạt sức chứa 555người, tối đa là 853 người nếu chỉ có các hành khách thông thường (economy class).

Có hai kiểu A380 sẽ được đưa vào sử dụng. Loại A380-800, loại chở hành khách, là máy bay chở khách lớn nhất thế giới , lớn hơn cả Boeing 747[2]. Loại thứ hai, A380-800F, sẽ là máy bay vận tải, là một trong những máy bay vận tải lớn nhất thế giới sau Antonov An-225, An-124 và C-5 Galaxy. Phiên bản mới nhất do Airbus công bố (2010) là A380-900 với kích cỡ lớn hơn phiên bản A380-800 và sức chuyên chở hành khách tối đa lên đến hơn 900 hành khách.

Máy bay A380-800 có tầm bay xa cực đại là 16.000 km (8.000 mi) đủ để bay không nghỉ từ Chicago đến Sydney, và một tốc độ bay bình thường khoảng Mach 0,85 (1.050 km/h)[2], giống như máy bay Boeing 747.

Bối cảnh

Mùa hè năm 1988, một nhóm các kỹ sư của hãng Airbus được lãnh đạo bởi Jean Roeder đã bí mật bắt đầu việc nghiên cứu và phát triển một siêu máy bay chở khách (UHCA), với hai mục tiêu là để hoàn thiện danh mục các sản phẩm của Airbus cũng như đánh đổ sự thống trị của Boeing trong phân khúc thị trường này với mẫu Boeing 747. Khác với MacDonnell Douglas trong việc thương mại hóa mẫu máy bay nhỏ hai boong MD-12 Roeder đã được chấp thuận bởi UHCA cho các nghiên cứu tiếp theo sau một bài thuyết trình chính thức tới Chủ tịch và Giám đốc điều hành của hãng vào tháng 06/1990. Dự án được công bố tại Farnborough Air Show năm 1990, với mục tiêu được nêu là sẽ giảm bớt 15% chi phí vận hành so với mẫu Boeing 747 cùng loại. Airbus đã tổ chức bốn nhóm thiết kế, từ bốn đối tác của EADS (Aérospatiale, DaimlerChrysler Aerospace,. British Aerospace, EADS CASA) cùng nghiên cứu và đề xuất những công nghệ tiên tiến nhất để áp dụng cho mẫu máy bay mới trong tương lai. Các mẫu thiết kế sẽ được trình bày trong năm 1992 và những thiết kế xuất sắc nhất sẽ được sử dụng.
Tháng 1/1993, Boeing và một số công ty trong tập đoàn của Airbus đã bắt đầu một nghiên cứu và phát triển chung một mẫu siêu máy bay chở khách cơ lớn nhằm mục tiêu hình thành một quan hệ đối tác để chia sẻ thị trường hạn chế. Nghiên cứu đã bị huỷ bỏ hai năm sau đó, lãi suất của Boeing cũng bị giảm sút.
Trong tháng 6/1994, Airbus đã bắt đầu phát triển riêng cho mình một mẫu máy bay chở khách cỡ lớn, thuộc phân hạng A3XX. Airbus đã nghiên cứu một số mẫu thiết kế, bao gồm cả sự kết hợp hai từ thân máy bay A340, mẫu máy bay phản lực lớn nhất của Airbus tại thời điểm đó. Các A3XX được thiết kế để chạnh tranh với nghiên cứu của Boeing và mẫu máy bay 747 rất thành công. Từ 1997-2000, khi cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á đã phủ bóng đêm lên toàn bộ thị trường, Airbus đã thay đổi thiết kế với mục tiêu giảm từ 15-20% chi phí vận hành hiện tại trên các máy bay Boeing 747-400. Thiết kế A3XX bao gồm hai boong, cho phép chuyên chở được nhiều hành khách hơn so với thiết kế một boong truyền thống.

Các giai đoạn thiết kế

Ngày 19/12/2000, Ban giám sát mới được tái cơ cấu của Airbus đã thống nhất chương trình xây dựng A3XX trị giá 8,8 tỷ euro, đổi tên mẫu máy bay mới là A380, với 50 đơn đặt hàng từ sáu công ty khách hàng. Thiết kế của A380 là sự thay đổi lớn so với các thành viên còn lại của Airbus, là kết quả của việc phát triển từ mẫu A300 đến A340. Nó đã được lựa chọn bởi vì số 8 giống với mục chéo hai sàn tàu, và là con số may mắn theo quan niệm của một số nước chau Á, thị trường mục tiêu của A380. Các tính năng của A380 đã được hoàn thiện vào đầu năm 2001, bộ phận cánh của máy bay được bắt đầu đưa vào sản xuất vào ngày 23/1/2002. Chi phí phát triển của A380 là đã tăng lên đến 11 tỷ euro tính cho đến khi chiếc máy bay đầu tiên được xuất xưởng.

Thử nghiệm

Chiếc A380 đầu tiên, số MSN001 và đăng ký F-WWOW , đã được công bố tại một buổi lễ ở Toulouse ngày 18 tháng 1 năm 2005. Chuyến bay đầu tiên của nó diễn ra lúc 08:29 UTC (10:29 giờ địa phương) ngày 27 Tháng Tư năm 2005. Chiếc máy bay này được trang bị động cơ Trent 900, cất cánh từ Sân bay quốc tế Toulouse Blagnac với một phi hành đoàn gồm sáu phi công thử nghiệm chính do Jacques Rosay điều khiển. Và hạ cánh thành công sau ba giờ và 54 phút sau thử nghiệm. Ngày 01 tháng 12 năm 2005 của A380 đạt được tốc độ thiết kế tối đa Mach 0,96 (so với tốc độ bay bình thường là Mach 0,85). Ngày 10 tháng một năm 2006 của A380 đã vượt Đại Tây Dương đầu tiên chuyến bay đến Medellín ở Colombia , để kiểm tra hiệu suất động cơ tại một sân bay độ cao lớn . Nó đã bay đến Bắc Mỹ vào ngày 06 tháng hai, hạ cánh tại Iqaluit , Nunavut ở Canada đễ thử nghiệm trong thời tiết lạnh.
Airbus đã công bố thay đổi thêm 30 kg cho cánh để cung cấp sức mạnh cần thiết sau lượt kiểm tra không thành công hồi đàu năm 2006. Ngày 26 tháng 3 2006 A380 đã trải qua chứng nhận sơ tán ở Hamburg . Với 8 trong số 16 thoát khỏi bị chặn, 853 hành khách và phi hành đoàn 20 rời máy bay trong 78 giây, ít hơn 90 giây yêu cầu của tiêu chuẩn chứng nhận. Ba ngày sau, A380 đã nhận được phép từ Cơ quan An toàn Hàng không châu Âu (EASA) và Cục Hàng không liên bang Hoa Kỳ(FAA) phê duyệt để thực hiện lên đến 853 hành khách. Các chuyến bay đầu tiên của A380 đầu tiên sử dụng GP7200 , số serial động cơ MSN009 và đăng ký F-WWEA -diễn ra vào ngày 25 Tháng 8, 2006. Vào ngày 04 tháng chín năm 2006, lần đầu tiên mang đầy đủ hành khách chuyến bay thử nghiệm đã diễn ra. Chiếc máy bay đã bay từ Toulouse với 474 nhân viên Airbus trên tàu, trong các đầu tiên của một loạt các chuyến bay để kiểm tra các cơ sở hành khách và thoải mái. Trong tháng 11 năm 2006 một loạt hơn nữa của các tuyến đường bay minh đã diễn ra để chứng minh máy bay thực hiện của các đối 150 chuyến bay giờ theo điều kiện hoạt động hàng không điển hình.

Sản xuất

Phần lớn cấu trúc của A380 được chế tạo tại Pháp, Đức, Tây Ban Nha, và Vương quốc Anh. Do kích thước rất lớn nên các bộ phận của A380 được vận chuyển đến lắp ráp tại xưởng của Airbus tại Toulouse, Pháp bằng tàu thủy, mặc dù một số phần được chuyển bằng A300-600ST Beluga, máy bay được sử dụng trong việc xây dựng các mẫu Airbus khác. Các bộ phận của A380 được cung cấp bởi các nhà cung cấp từ khắp nơi trên thế giới; năm nhà cung cấp lơn nhất tính theo giá trị là Rolls-Royce, SAFRAN, United Technologies, General Electric, và Goodrich .
Các phần phía trước và phía sau của thân máy bay được chuyển lên tàu vận tải của Airbus bằng trục lăn, cảng Ville de Bordeaux, tại Hamburg ở miền bắc nước Đức, từ đó họ được chuyển đến Vương quốc Anh . Cánh của máy bay được sản xuất tại Filton ở Bristol và Broughton, miền bắc xứ Wales; được vận chuyển bằng sà lan đến cảng Mostyn và sau đó được chuyển lên các tàu chở hàng. Tại Saint-Nazaire ở phía Tây nước Pháp, các tàu chở những phần thân của máy bay từ Hamburg đẻ lắp ráp lại với nhau. Trong đó bao gồm cả một số bộ phận ở mũi máy bay. Sau đó các bộ phận này được chuyển đến và dỡ xuống cảng Bordeaux. Các tàu này tiếp tục bốc các phần bụng và đuôi của máy bay tại nhà máy Construcciones Aeronáuticas SA tại Cádiz phía Nam của Tây Ban Nha và sau đó lại chuyển về cảng Bordeaux. Airbus sized the production facilities and supply chain for a production rate of four A380s per month. Từ đó, các bộ phận A380 được vận chuyển bằng sà lan đến Langon và được vận chuyển đến điểm láp ráp cuối cùng tại Toulouse. Các tuyến đường và kênh đào để vận chuyển các bộ phận của A380 đều đã được mở rộng và sử chữa. Sau khi hoàn thành công đoạn lắp ráp, nó sẽ bay đến sân bay Hamburg Finkenwerder (XFW) để được hoàn thiện và sơn. Mất khoảng 3600 lít sơn để che phủ 3.100 m2 bên ngoài của A380. Năng lực sản xuất A380 là vào khoảng 04 chiếc mỗi tháng.

Các đặc điểm

Các đặc điểm tổng quát
Phi hành đoàn: 2
Khả năng chuyên chở: 555 trong 3 cấp hay 853 hành khách 1 cấp, với 66,4 tấn (146.400 lb) hàng hoá trong 38 LD3 hay 13 pallet
152,4 tấn (336.000 lb) hàng hoá (158 t option)
Động cơ: 4×311 kN (70.000 lbf) turbofan. Hoặc Rolls-Royce Trent 900 hay là Engine Alliance GP7200
4×340 kN (76.500 lbf)
Kích thước
Dài: 73 m (239 ft 6 in)
Sải cánh: 79,8 m (261 ft 10 in)
Cao: 24,1 m (79 ft 1 in)
Diện tích cánh: 845 m² (9.100 ft²)
Trọng lượng và dung tích nhiên liệu
Trọng lượng lúc trống: 276.800 kg (610.200 lb)
252.200 kg (556.000 lb)
Trọng lượng tối đa lúc cất cánh: 560.000 kg (1.235.000 lb)
590.000 kg (1.300.000 lb)
Nhiên liệu chứa tối đa: 310.000 litres (81.890 US gal)
310.000 l (352.000 l option)
Vận hành
Tốc độ bay bình thường: 0.85 Mach (khoảng 1050 km/h, 647 mph, 562 kt)
Tốc độ bay tối đa: 0,89 Mach
Tầm xa: 16.000 km (8.000 nmi)
10.400 km (5.600 nmi)
Độ cao phục vụ: 13.100 m (43.000 ft)

HÃNG HÀNG KHÔNG NĂM ĐƯA VÀO SỬ DỤNG KIỂU ĐỘNG CƠ
A380-800 A380-800F LỰA CHỌN EA RR
Flag of France.svg  Air France 2008 10 4 *
Flag of the People's Republic of China.svg  China Southern Airlines 2011 5 *
Flag of the United Arab Emirates.svg  Emirates 2008
43 *
Flag of the United Arab Emirates.svg  Etihad Airways 2012 4 *
Flag of India.svg  FedEx 2010
10 10 *
Flag of India.svg  ILFC 5 5 4
Flag of Germany.svg  Kingfisher Airlines 2012 5
Flag of Malaysia.svg  Korean Air 2009 5 3 *
Flag of Australia.svg  Lufthansa 2008 15 10 *
Flag of Qatar.svg  Malaysia Airlines 2010 6 *
Flag of Singapore.svg  Qantas 2009 12 10 *
Flag of Thailand.svg  Qatar Airways 2009 2 2
Flag of the United Kingdom.svg  Singapore Airlines 2007 10 15 *
Flag of Thailand.svg Thai Airways International Năm 2012 đến 2015 6
Flag of India.svg  UPS 2011 10 10
Flag of the United Kingdom.svg Virgin Atlantic 2012 6 6 *
CỘNG 138 25 74 72 63
TỔNG 163 135
Xem Thêm
Gọi ngay