Hãng hàng không South African Airways

South African Airways (SAA) là hãng hàng không quốc gia Nam Phi. Hãng này có trung tâm hoạt động chính tại Johannesburg và Cape Town. Trong tiếng Afrikaan hãng này có tên gọi Suid-Afrikaanse Lugdiens (SAL), dù tên gọi này không còn được sử dụng làm thương hiệu của hãng. Hãng hàng không này đóng trụ sở tại Sân bay quốc tế OR Tambo ở Kempton Park, Ekurhuleni, Gauteng
Tuổi trung bình của đội tàu bay South African Airways là 8,6 năm tại thời điểm tháng 3 năm 2010.

Thành lập:

1934 (ban đầu được mua với tên Union Airways bởi chính phủ Nam Phi)

Các trạm trung chuyển chính:

Sân bay quốc tế OR Tambo

Các điểm đến quan trọng:

Sân bay quốc tế Cape Town
Sân bay quốc tế King Shaka

Chương trình hành khách thường xuyên:

Voyager

Phòng khách dành cho thành viên:

Cycad/Baobab Lounge

Liên minh:

Star Alliance

Số máy bay:

50 (26 đặt hàng)

Số điểm đến:

37

Công ty mẹ:

Government of South Africa

Tổng hành dinh:

Kempton Park, Ekurhuleni, Gauteng, South Africa

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Singapore Airlines

Hãng hàng không Singapore (tiếng Anh: Singapore Airlines) (Viết tắt: SIA; tiếng Mã Lai: Syarikat Penerbangan Singapura, chữ Hán: 新加坡航空公司; bính âm: Xīnjīapō Hángkōng Gōngsī; viết tắt 新航) Bản mẫu:Sgx là hãng hàng không quốc gia của Singapore. Singapore Airlines hoạt động chính tại Sân bay Quốc tế Changi Singapore và hiện diện ở các thị trường hàng không Đông Nam Á, Đông Á, Nam Á, Châu Phi và cạnh tranh “tuyến đường canguru” giữa châu Âu và châu Đại Dương .Công ty này cũng cung cấp các chuyến bay xuyên Thái Bình Dương, bao gồm 2 trong số các các chuyến bay thẳng thương mại dài nhất thế giới từ Newark, New Jersey và Los Angeles, California. Hãng cũng sở hữu hãng hàng không con là: SilkAir và là hãng hàng không duy nhất trên thế giới sở hữu sớm nhất Airbus A380 với 10 chiếc máy bay hiện có.

Điểm đến

Châu Phi
Ai Cập
Cairo (Sân bay quốc tế Cairo)
Nam Phi
Cape Town (Sân bay quốc tế Cape Town)
Johannesburg (Sân bay quốc tế OR Tambo)

Châu Á

Đông Á
Trung Quốc
Bắc Kinh (Sân bay quốc tế Thủ Đô Bắc Kinh)
Quảng Châu (Sân bay quốc tế Bạch Vân Quảng Châu)
Hồng Kông (Sân bay quốc tế Hong Kong)
Nam Ninh (Sân bay quốc tế Nanjing Lukou)
Thượng Hải (Sân bay quốc tế Phố Đông Thượng Hải)
Đài Loan
Đài Bắc (Sân bay quốc tế Đào Viên Đài Loan)
Nhật Bản
Fukuoka (Sân bay Fukuoka)
Nagoya (Sân bay quốc tế Chubu)
Osaka (Sân bay quốc tế Kansai)
Tokyo (Sân bay quốc tế Narita)
Hàn Quốc
Seoul (Sân bay quốc tế Incheon)

Nam Á
Bangladesh
Dhaka (Sân bay quốc tế Zia)
Ấn Độ
Ahmedabad (Sân bay quốc tế Sardar Vallabhbhai Patel)
Amritsar (Sân bay quốc tế Raja Sansi)
Bangalore (Sân bay quốc tế HAL Bangalore)
Chennai (Sân bay quốc tế Chennai)
Hyderabad (Sân bay quốc tế Rajiv Gandhi)
Kolkata (Sân bay quốc tế Netaji Subhash Chandra Bose)
Mumbai (Sân bay quốc tế Chhatrapati Shivaji)
New Delhi (Sân bay quốc tế Indira Gandhi)
Maldives
Malé (Sân bay quốc tế Malé)
Pakistan
Karachi (Sân bay quốc tế Jinnah)
Lahore (Sân bay quốc tế Allama Iqbal)
Sri Lanka
Colombo (Sân bay quốc tế Bandaranaike)

Đông Nam Á
Brunei
Bandar Seri Begawan (Sân bay quốc tế Brunei) sau này sẽ được chuyển qua cho SilkAir.
Indonesia
Denpasar (Sân bay quốc tế Ngurah Rai)
Jakarta (Sân bay quốc tế Soekarno-Hatta)
Malaysia
Kuala Lumpur (Sân bay quốc tế Sepang)
Penang (Sân bay quốc tế Penang)
Philippines
Manila (Sân bay quốc tế Ninoy Aquino)
Singapore
Singapore (Sân bay quốc tế Changi Singapore), Trụ sở chính
Thái Lan
Bangkok (Sân bay quốc tế Suvarnabhumi)
Việt Nam
Hà Nội (Sân bay quốc tế Nội Bài)
Thành phố Hồ Chí Minh (Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất)

Tây Nam Á
Ả rập Saudi
Jeddah (Sân bay quốc tế King Abdulaziz)
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Abu Dhabi (Sân bay quốc tế Abu Dhabi)
Dubai (Sân bay quốc tế Dubai)

Châu Âu
Đan Mạch
Copenhagen (Sân bay quốc tế Copenhagen)
Pháp
Paris (Sân bay quốc tế Charles de Gaulle)
Đức
Frankfurt (Sân bay quốc tế Frankfurt)
Hy Lạp
Athens (Sân bay quốc tế Athens)
Ý
Milan (Sân bay quốc tế Malpensa)
Rome (Sân bay quốc tế Leonardo da Vinci)
Hà Lan
Amsterdam (Sân bay quốc tế Amsterdam Schiphol)
Nga
Moscow (Sân bay quốc tế Domodedovo)
Tây Ban Nha
Barcelona ([[Sân bay quốc tế Barcelona]) khônng có điểm đến
Thụy Sĩ
Zürich (Sân bay quốc tế Zürich)
Thổ Nhĩ Kỳ
Istanbul (Sân bay quốc tế Atatürk)
Anh
London (Sân bay London Heathrow)
Manchester (Sân bay Manchester)

Bắc Mỹ
Canada
Vancouver (Sân bay quốc tế Vancouver)
United States
Houston (Sân bay quốc tế George Bush)
Los Angeles (Sân bay quốc tế Los Angeles)
San Francisco (Sân bay quốc tế San Francisco)
Newark (Sân bay quốc tế Newark Liberty)
New York (Sân bay quốc tế John F. Kennedy)

Châu Đại Dương

Úc
Adelaide (Sân bay quốc tế Adelaide)
Brisbane (Sân bay quốc tế Brisbane)
Melbourne (Sân bay Melbourne)
Perth (Sân bay Perth)
Sydney (Sân bay Quốc tế Kingsford Smith)
New Zealand
Auckland (Sân bay quốc tế Auckland)
Christchurch (Sân bay quốc tế Christchurch)

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Shenzhen Airlines

Shenzhen Airlines là một hãng hàng không nội địa đóng tại Sân bay quốc tế Bảo An Thâm Quyến, Thâm Quyến, Quảng Đông, Trung Quốc

Lịch sử

Hãng hàng không này được thành lập tháng 10 năm 1992 và bắt đầu hoạt động từ ngày 13 tháng 9 năm 1993. Hãng này được thành lập bởi CAAC và chính quyền Thẩm Quyến với sự tham gia tài chính của hãng Air China, Overseas Chinese City Economic Development Corporation, Bank of China vàShenzhen South Tongfa Industrial Corporation. Đây là một trong những hãng hàng không có lợi nhuận nhất Trung Quốc. Hiện tại cơ cấu cổ phần của hãng này như sau: Ngân hàng Phát triển Quảng Đông (65%), CNAC (Air China) (25%) và Shenzhen Investment Management (10%).

Năm 2004, hãng đã cùng các đối tác Lufthansa Cargo và DEG, thành lập hãng hàng không vận tải hàng hóa Jade Cargo International, hãng mới này đi vào hoạt động tháng 9 năm 2005. Shenzhen Airlines sở hữu 51% cổ phần trong hãng mới này.

Ngày 10 tháng 6 năm 2005, hãng Boeing đã bàn giao chiếc Boeing 737-900 cho Shenzhen Airlines tại Seattle. Đây là chiếc đầu tiên trong 5 chiếc giao năm 2005. Shenzhen Airlines là hãng hàng không Trung Quốc đầu tiên đặt mua 737-900 và đây là chuyến giao hàng trực tiếp đầu tiên của hãng Shenzhen từ Boeing

Đội tàu bay

Đến thời điểm tháng 3 năm 2007, đội tàu bay của Shenzhen Airlines bao gồm:
Đội tàu bay Shenzhen Airlines
Máy bay
Tổng
Đơn hàng
Số khách
Ghi chú

Airbus A319-100
5
Airbus A320-200
4    15
Boeing 737-300
9
Boeing 737-700
10
Boeing 737-800
12    7
Boeing 737-900
5

Thành lập:

1992

Các trạm trung chuyển chính:

Sân bay quốc tế Bảo An Thâm Quyến

Các điểm đến quan trọng:

Sân bay quốc tế Ngô Vu Nam Ninh
Sân bay Thạc Phóng Vô Tích
Sân bay quốc tế Bạch Vân Quảng Châu
Sân bay quốc tế Đào Tiên Thẩm Dương
Sân bay Bôn Ngưu Thường Châu
Sân bay quốc tế Tân Trịnh Trịnh Châu

Tổng hành dinh:

Thẩm Quyến, Quảng Đông, Trung Quốc

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Shanghai Airlines

Công ty Hàng không Thượng Hải (tên giao dịch quốc tế: Shanghai Airlines, tên tiếng Trung: 上海航空公司, SSE: 600591) là một hãng hàng không có trụ sở tại Thượng Hải, Trung Quốc. Hãng này hoạt động nội địa và quốc tế. Trung tâm tại sân bay quốc tế Phố Đông Thượng Hải và sân bay Hồng Kiều Thượng Hải[1]. Hàng không Thượng Hải hiện tại đang được chính phủ Trung Quốc xem xét cho hợp nhất với China Eastern Airlines

Đội tàu bay

Đội tàu bay của hàng không THượng Hải (tháng 8/2006)

5 Boeing 737-700
16 Boeing 737-800 (cộng 4 đang đặt hàng)
12 Boeing 757-200
1 Boeing 757-200PCF
4 Boeing 767-300
1 Boeing 767-300ER (cộng 2 đặt hàng)
5 Bombardier CRJ-200LR
1 McDonnell Douglas MD-11F
Đặt hàng: 9 Boeing 787-8
Đặt hàng: 5 ARJ21[4]

Từ sân bay Hồng Kiều, Shanghai Airlines khai thác 50 điểm nội địa Trung Quốc

Tới Việt Nam

Ngày 8/8/2002 khai thác trực tuyến Sài Gòn – Thượng Hải với tần suất 2 chuyến/tuần.
Ngày 27/03/2005 tăng tần suất lên 5 chuyến/tuần
Ngày 25/03/2007 tăng tần suất lên 7 chuyến/tuần

Thành lập

1985

Các trạm trung chuyển chính:

Sân bay quốc tế Phố Đông Thượng Hải
Sân bay Hồng Kiều Thượng Hải

Liên minh:

Star Alliance (Quan sát viên)

Tổng hành dinh:

Thượng Hải, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Royal Jordanian

Royal Jordanian là hãng hàng không có trụ sở chính tại Housing Bank Commercial Center ở Amman, Jordan, với các tuyến bay theo lịch trình quốc tế trên bốn lục địa từ căn cứ chính tại Sân bay quốc tế Queen Alia ở Amman (AMM) Jordan. Royal Jordâni (RJ) là một thành viên của Tổ chức các hãng Air Ả Rập và Oneworld, liên minh hàng không toàn cầu. RJ giành được giải “Trung tâm Hàng không châu Á Thái Bình Dương”, giải “Airline Turnaround năm 2006”. Hãng này cung ứng 500 chuyến bay mỗi tuần, với ít nhất là 110 lượt chuyến khởi hành hàng ngày. Trong năm 2005 công ty đã có thể mua từ viết tắt và mã IATA “RJ” làm một địa chỉ trên mạng Internet, RJ.com. Hoàng gia Jordan đã được bình chọn là “Hãng hàng không của năm 2007” do Tạp chí Air Finance Journal tiến hành.

Các trạm trung chuyển chính:

Sân bay quốc tế Queen Alia

Các điểm đến quan trọng:

Sân bay Aqaba

Chương trình hành khách thường xuyên:

Royal Plus

Phòng khách dành cho thành viên:

Crown Lounge

Liên minh

Oneworld (2007)

Các công ty con:

Royal Wings
Royal Jordanian Cargo
Royal Jordanian Ground Handling

Tổng hành dinh:

Housing Bank
Commercial Center
Amman, Jordan

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Royal Brunei Airlines

Royal Brunei Airlines (tiếng Mã Lai: Penerbangan DiRaja Brunei, tiếng Jawi: ﻓﻧﺭﺑﺎڠن ﺩﻴﺮﺍﺝ ﺑﺮﻮﻧﻲ), hay RBA, là hãng hàng không duy nhất của Brunei. Hãng này thuộc sở hữu 100% của chính phủ Brunei và là hãng hàng không quốc gia của Sultanate of Brunei Darussalam. Trụ sở của hãng tại sân bay quốc tế Brunei tại Berakas, ngay phía Bắc của thủ đô Bandar Seri Begawan.

Điểm đến

Châu Á
Đông Á

Trung Quốc
Hồng Kông (Sân bay quốc tế Hồng Kông)

Đông Nam Á

Brunei
Bandar Seri Begawan (Sân bay quốc tế Brunei) – Trụ sở chính
Indonesia
Jakarta (Sân bay quốc tế Soekarno-Hatta)
Surabaya (Sân bay quốc tế Juanda)
Malaysia
Kota Kinabalu (Sân bay quốc tế Kota Kinabalu)
Kuala Lumpur (Sân bay quốc tế Kuala Lumpur)
Kuching (Sân bay quốc tế Kuching)
Philippines
Manila (Sân bay quốc tế Ninoy Aquino)
Singapore
Singapore (Sân bay quốc tế Changi Singapore)
Thái Lan
Bangkok (Sân bay quốc tế Suvarnabhumi)
Việt Nam
Thành phố Hồ Chí Minh (Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất)

Tây Á
Ả Rập Saudi
Jeddah (Sân bay quốc tế King Abdul Aziz)
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Dubai (Sân bay quốc tế Dubai)

Châu Âu
Anh
London (Sân bay quốc tế London Heathrow)

Châu Đại Dương
Australia
Brisbane (Sân bay Brisbane)
Perth (Sân bay Perth)
New Zealand
Auckland (Sân bay quốc tế Auckland)

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Qatar Airways

Qatar Airways (tiếng Ả Rập: القطرية) (Hãng hàng không Qatar) là một hãng hàng không có trụ sở tại Doha, Qatar. Hãng hoạt động theo một hệ thống trục và na hoa dựa trên Doha, nối 75 điểm đến quốc tế. Cơ sở chính của hãng tại Sân bay quốc tế Doha (DOH). Đây là một trong những hãng hàng không tăng trưởng nhanh nhất và là một trong năm hãng hàng không được nhận danh hiệu “hãng hàng không năm sao” do Skytrax bầu chọn cùng với các hãng Asiana Airlines, Cathay Pacific, Malaysia Airlines và Singapore Airlines.

qatar-airways

Lịch sử

Hãng được thành lập ngày 22 tháng 11 năm 1993 và bắt đầu hoạt động vào ngày 20 tháng giêng năm 1994. Ban đầu hãng thuộc sở hữu của các thành viên của hoàng gia Qatar nhưng tháng 4 năm 1997 thì thay đổi vào tháng 4 năm 1997 bằng một đội ngũ quản lý do Akbar Al Baker lãnh đạo (Tổng giám đốc điều hành). Hiện nay hãng này có cơ cấu sở hữu như sau: chính phủ Qatar (50%) các nhà đầu tư tư nhân (50%).

Câu lạc bộ Đặc quyền hãng Qatar Airways là một chương trình dành cho khách hàng bay thường xuyên của hãng với tỷ lệ phần thưởng cao nhất thế giới. Qatar Airways là hãng hàng không chính thức cho Thế vận hội châu Á 2006 tổ chức tại Doha, Qatar từ ngày 1-15 tháng 12 năm 2006.

Qatar Airways đã giới thiệu một màu sơn và logo mới cho máy bay của mình năm 2006. Máy bay đầu tiên khoác lên hình ảnh mới này là một chiếc A340-600HGW . hình ảnh và logo này do Công ty marketing Úc Performa Global thực hiện.

Các điểm đến

Châu Phi

Đông Phi
Kenya
Nairobi (Sân bay quốc tế Jomo Kenyatta)
Seychelles
Mahé (Sân bay quốc tế Seychelles)
Tanzania
Dar es Salaam (Sân bay quốc tế Mwalimu J.K. Nyerere)

Bắc Phi

Algeria
Algiers (Sân bay quốc tế Houari Boumedienne)
Oran (Sân bay quốc tế Oran Es Sénia) [Năm 2008]
Ai Cập
Alexandria (Sân bay quốc tế El Nouzha Airport)
Cairo (Sân bay quốc tế Cairo)
Luxor (Sân bay quốc tế Luxor)
Libya
Tripoli (Sân bay quốc tế Tripoli)
Morocco
Casablanca (Sân bay quốc tế Mohammed V)
Sudan
Khartoum (Sân bay quốc tế Khartoum)
Tunisia
Tunis (Sân bay quốc tế Tunis-Carthage)

Nam Phi
Cộng hòa Nam Phi
Cape Town (Sân bay quốc tế Cape Town)
Johannesburg (Sân bay quốc tế OR Tambo)

Tây Phi
Nigeria
Lagos (Sân bay quốc tế Murtala Mohammed)

Châu Á

Đông Á
Trung Quốc
Bắc Kinh (Sân bay quốc tế Thủ Đô Bắc Kinh)
Quảng Châu (Sân bay quốc tế Bạch Vân Quảng Châu)
Hồng Kông (Sân bay quốc tế Hong Kong)
Thượng Hải (Sân bay quốc tế Phố Đông Thượng Hải)
Nhật Bản
Osaka (Sân bay quốc tế Kansai)
Hàn Quốc
Seoul (Sân bay quốc tế Incheon)

Nam Á
Bangladesh
Dhaka (Sân bay quốc tế Zia)
Ấn Độ
Ahmedabad (Sân bay quốc tế Ahmedabad)
Bangalore (Sân bay quốc tế HAL) Hàng hóa
Chennai (Sân bay quốc tế Chennai)
Delhi (Sân bay quốc tế Indira Gandhi)
Hyderabad (Sân bay quốc tế Rajiv Gandhi)
Kochi (Sân bay quốc tế Cochin)
Kozhikode (từ 15.06.08)
Mumbai (Sân bay quốc tế Chatrapati Shivaji)
Nagpur (Sân bay quốc tế Nagpur)
Trivandrum (Sân bay quốc tế Trivandrum)
Maldives
Malé (Sân bay quốc tế Male)
Nepal
Kathmandu (Sân bay quốc tế Tribhuvan)
Pakistan
Islamabad (Sân bay quốc tế Islamabad)
Karachi (Sân bay quốc tế Jinnah)
Lahore (Sân bay quốc tế Allama Iqbal)
Peshawar (Sân bay quốc tế Peshawar)
Sri Lanka
Colombo (Sân bay quốc tế Bandaranaike)

Đông Nam Á
Indonesia
Denpasar (Sân bay quốc tế Ngurah Rai)
Jakarta (Sân bay quốc tế Soekarno-Hatta)
Malaysia
Johor Bahru (Sân bay quốc tế Senai)Hàng hóa
Kuala Lumpur (Sân bay quốc tế Kuala Lumpur)
Philippines
Cebu (Sân bay quốc tế Mactan-Cebu)
Manila (Sân bay quốc tế Ninoy Aquino)
Singapore
Singapore (Sân bay quốc tế Changi Singapore)
Thái Lan
Bangkok (Sân bay quốc tế Suvarnabhumi)
Việt Nam
Thành phố Hồ Chí Minh (Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất)
Hà Nội ( Sân bay Nội Bài )

Tây Nam Á
Bahrain
Manama (Sân bay quốc tế Bahrain)
Iran
Mashad (Sân bay quốc tế Mashhad)
Tehran (Sân bay quốc tế Imam Khomeini)
Jordan
Amman (Sân bay quốc tế Queen Alia)
Kuwait
Kuwait (Sân bay quốc tế Kuwait)
Lebanon
Beirut (Sân bay quốc tế Rafic Hariri)
Oman
Muscat (Sân bay quốc tế Seeb)
Qatar
Doha (Sân bay quốc tế Doha) Trụ sở chính
Saudi Arabia
Dammam/Dhahran (Sân bay quốc tế King Fahd)
Jeddah (Sân bay quốc tế King Abdulaziz)
Riyadh (Sân bay quốc tế King Khalid)
Syria
Damascus (Sân bay quốc tế Damascus)
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Abu Dhabi (Sân bay quốc tế Abu Dhabi)
Dubai (Sân bay quốc tế Dubai)
Yemen
Sana’a (Sân bay quốc tế Sana’a)

Châu Đại Dương
Australia
Melbourne (Sân bay Melbourne)

Châu Âu
Áo
Vienna (Sân bay quốc tế Vienna)
Pháp
Paris (Sân bay quốc tế Charles de Gaulle)
Đức
Berlin (Sân bay quốc tế Tegel)
Frankfurt (Sân bay quốc tế Frankfurt)
Munich (Sân bay quốc tế Munich)
Hy Lạp
Athens (Sân bay quốc tế Athens)
Ý
Milan (Sân bay quốc tế Malpensa)
Rome (Sân bay quốc tế Leonardo Da Vincirport)
Nga
Moscow (Sân bay quốc tế Domodedovo)
Tây Ban Nha
Madrid (Sân bay quốc tế Madrid Barajas)
Hà Lan
Amsterdam (Sân bay quốc tế Amsterdam Schiphol) Hàng hóa
Thụy Sĩ
Geneva (Sân bay quốc tế Geneva Cointrin)
Zürich (Sân bay quốc tế Zürich)
Sweden
Stockholm (Sân bay quốc tế Stockholm-Arlanda)
Thổ Nhĩ Kỳ
Istanbul (Sân bay quốc tế Atatürk)
Anh
London
(Sân bay quốc tế London Gatwick)
(Sân bay London Heathrow)
Manchester (Sân bay quốc tế Manchester)

Bắc Mỹ
Mỹ
Houston (Sân bay quốc tế George Bush) [từ 10.11.2008][1]
Newark (Sân bay quốc tế Newark Liberty)
Washington, D.C. (Sân bay quốc tế Washington Dulles)

Thành lập

1993

Các trạm trung chuyển chính:

Sân bay quốc tế Doha

Chương trình hành khách thường xuyên:

Qatar Airways Privilege Club – Qmiles

Công ty mẹ:

Qatar Airways Group

Tổng hành dinh:

Doha, Qatar

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Qantas

Qantas là tên của hãng hàng không quốc gia của Úc và là hãng hàng không lớn thứ 11 thế giới. “QANTAS” là viết tắt của Queensland and Northern Territory Aerial Services. Tổng hành dinh của công ty hiện được đặt tại Sydney, New South Wales, Úc.

Qantas ngày nay

Điểm trung chuyển chính của các chuyến bay quốc tế của Qantas là Sân bay quốc tế Kingsfort Smith Sydney và Sân bay Melbourne. Ngoài ra Qantas cũng khai thác một số lượng đáng kể các chuyến bay từ Sân bay quốc tế Singapore Changi, Sân bay quốc tế Auckland, Sân bay Brisbane, Sân bay quốc tế Los Angeles và Sân bay London Heathrow. Điểm trung chuyển chính cho các chuyến bay nội địa là Sydney, Melbourne, Brisbane, Perth và Adeleide tuy nhiên hãng cũng khai thác rất nhiều chuyến bay từ Canberra và Cairns.

Qantas sở hữu Jetstar Airways, Jetconnect (khai thác các chuyến bay trong nội địa New Zealand và các chuyến bay giữa Australia và New Zealand), QantasLink (bao gồm Sunstate Airlines và Eastern Australia Airlines), và Qantas Freight (hãng này sở hữu Express Freighters Australia). Qantas đã nắm giữ 4.2% cổ phần của Air New Zealand, tuy nhiên chúng đã được bán vào ngày 26-07-2007 với giá 116 triệu đô la New Zealand. Qantas cũng nắm 49% cổ phần của hãng hàng không Fiji Air Pacific. Thông qua công ty con là Qantas Freight, Qantas cũng hám 50% cổ phần của cả hai công ty Australian air Express và Star Track Express[39] và 50% cổ phần còn lại của hai công ty trên do Australia Post sở hữu.

Từ khi được tư nhân hóa vào năm 1993, Qantas trở thành một trong số các hãng hàng không có lợi nhuận cao nhất trên thế giới.[40] Năm 2008, hãng được giải thưởng Hãng hàng không tốt thứ 3 trên thế giới do Skytrax bình trọn. Năm 2007 Qantas đứng thứ 5 và năm 2005-2006 đứng thứ 2. Ngoài ra, Qantas còn nhận được giải thưởng “Dịch vụ hạng nhất tốt nhất”, “Hãng hàng không tốt nhất Australia”, “Hãng hàng không phục vụ đồ ăn trên khoang hạng phổ thông tốt nhất” cũng như “Hãng hàng không tốt nhất khu vực Chuâ Á-Úc”

Qantas đã mở rộng mạng lưới của Jetstar Airways với việc khai thác các đường bay quốc tế (ngoài các đường bay giữa Australia và New Zealand cũng như các đường bay do Jetstar Asia khai thác) tới các điểm du lịch như Bali, TP. Hồ Chí Minh, Osaka và Honolulu từ tháng 11-2006. Một số đường bay (VD: Sydney tới Honolulu]], Jetstar khai thác song song với các chuyến bay của Qantas, còn lại hầu hết là các đường bay mới.

Các máy bay Boeing 747, vốn là đội bay chính của Qantas trong thập niên 80 với 28 chiếc, sẽ được cho nghỉ trong những năm tới. Ba chiếc 747-300s cuối cùng của hãng đã được cho nghỉ hưu vào cuối năm 2008[43] và các máy bay 747-400 sẽ được hủy bỏ dần dần, bắt đầu từ năm 2013 và sẽ được thay thế bằng máy bay Airbus A380. Ngoài ra Qantas cũng đang cân nhắc trong việc sử dụng máy bay Airbus A350, Boeing 777-300ER và Boeing 787 trong việc thay thế máy bay Boeing 747-400 ngoài các máy bay A380.[44]

Ngày 01-07-2008, Qantas nắm 58% cổ phần của Jetset Travelworld Group bằng cách kết hợp các bộ phận lữ hành và du lịch của nó là Qantas Holidays và Qantas Business Travel (QBT) sau đó bán lại cho Jetset Travelworld Group. Thỏa thuận này tạo ra một mối quan hệ song phương giữa công ty du lịch với các đại lý bán lẻ, nhà phân phối và các tổ chức bán hàng.[cần dẫn nguồn]

Cũng trong năm 2008, vào ngày 19-09 tổ chức buổi lễ nhận chiếc máy bay Airbus A380 đầu tiên.[45] Trong buổi lễ kỷ niệm này, Qantas công bố rằng hãng đang cân nhắc việc mua thêm 4 máy bay loại này.[46] Máy bay này đã hạ cánh xuống sân bay Sydney vào sáng ngày 21-09. Chuyến bay đầu tiên bằng máy bay A380 của Qantas là chuyến Melbourne – Los Angeles vào ngày 20-10-2008 và sau đó là từ Sydney đi Los Angeles. Chiếc A380 thứ hai được giao vào tháng 12-2008 sẽ được dùng để tăng tần xuất trên đường bay này. Những chiếc tiếp theo sẽ được dùng để mở rộng mạng lưới đường bay, bắt đầu với tuyến bay Kangaroo

Ngày 02-12-2008, British Airways xác nhận rằng hãng này đang đàm phán với Qantas về việc sát nhập hai hãng. Sau khi sát nhập, cổ phiếu của hãng mới sẽ được niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán London và sàn giao dịch chứng khoán Australia. Tuy nhiên, ngày 18-12-2008, cả hai công ty đều từ bỏ kế hoạch này bởi các vấn đề về quản lý sau khi sát nhập.[51] Nếu việc sát nhập này thành công, cùng với việc British Airways sát nhập thành công với Iberia Airlines, sẽ tạo ra hãng hàng không lớn nhất thế giới.

Chuyến bay trở khách cuối cùng bằng máy bay Boeing 747-300 của Qantas cất cánh trong hành trình từ Melbourne đi Los Angeles quá cảnh Auckland. Chuyến bay cuối cùng của 3 máy bay loại này được thực hiện vào ngày 20-01-2009, khi chúng bay tới Mỹ để xếp kho, việc này đã khép lại 24 năm hoạt động với hơn 524,000 giờ bay.

Trong cơn khủng hoảng tài chính thế giới, Qantas nói họ sẽ bỏ bới một số ghế hạng nhất trên một số đường bay quốc tế ngắn nhằm tăng lợi nhuận. Cổ phiếu của hãng đã tăng nhanh sau khi giảm mạnh vào tháng 03-2009 và lợi nhuận của hãng giảm 88% trong năm đó, tuy nhiên Qantas là một trong số ít các hãng hàng không có lãi vào năm đó.[53] Qantas công bố rằng hãng chỉ phục vụ dịch vụ hạng nhất trên các chuyến bay giữa Australia và London quá cảnh Singapore cũng như giữa Australia và Los Angeles

Các hoạt động quảng bá

Trên website của mình, Qantas sử dụng một hình động nhỏ để thông báo rằng hãng sẽ phục vụ dịch vụ Internet trên máy bay A380. Qantas sử dụng một chiến dịch quảng cáo, trong đó sử dụng bài hát dành cho dàn đồng ca thiếu nhi với tên gọi “I Still Call Australia Home”, với khung cảnh nền là hình ảnh nước Australia. Chiến dịch quảng cáo trước đó nhắm vào khán giả xem truyền hình Mỹ với hình ảnh con gấu Koala căm ghét Qantas bởi đã mang quá nhiều du khách tới phá hoại sự yên tĩnh của nó, với câu nói chính “Tôi ghét Qantas”. Qantas là nhà tài trợ chính cũng như tài trợ áo thun cho “Ủy ban bóng bầu dục quốc gia Australia” cũng như “đội bóng bầu dục quốc gia Australia”. Qantas cũng là nhà tài trợ cho Socceroos, đội tuyển bóng đá quốc gia Australia, giải Formula one Australian Grand Prix.

Điểm Đến

Qantas có 16 điểm đến nội địa và 21 điểm đến quốc tế ở 14 quốc gia châu Phi, châu Mỹ, châu Á, châu Âu và châu Đại Dương, không kể các điểm đến của các công ty phụ thuộc.

Khoang hạng nhất

Qantas First Class suite on the A380Dịch vụ hạng nhất được phục vụ trên máy bay Boeing 747-400 và Airbus A380. Trên máy bay Boeing 747-400, ghế dành cho khách hạng nhất có thể chuyển thành giường nằm rộng 22 inch và dài 6ft6 (khoảng 198cm). Màn hình cảm ứng 10.4 inch với 400 chương trình giải trí, một ổ cắm điện 110V. Trên mỗi máy bay Boeing 747 có 14 ghế hạng nhất.

Trên máy bay A380, Qantas cung cấp 14 khoang hạng nhất với ghế ngồi rộng 29 inch và có thể chuyển thành giường nằm dài 212cm. Mỗi khoang có 1 màn hình HD 17 inch với khoảng 1000 chương trình giải trí. Ngoài ổ cắm điện như trên Boeing 747-400, hành khách còn được trang bị thêm ổ cắm USB. Hành khách còn được sử dụng phòng khách hạng thương gia trên tầng trên của máy bay.

Tại sân bay, hành khách hạng nhất có thể sử dụng phòng chờ hạng nhất hoặc phòng chờ hạng thương gia.

Hạng thương gia

Hạng thương gia được phục vụ trên tất cả các chuyến bay của Qantas (trừ các chuyến bay do Qantaslink hoặc các hãng trực thuộc khai thác).

Ghế ngồi trên khoang “Hạng thương gia nội địa” được sắp xếp theo hình thức 2-2 trên máy bay Boeing 737 và 2-2-2 trên máy bay Boeing 767. Còn trên máy bay A330-200 (sẽ sớm được chuyển cho Jetstar, được sắp xếp theo hình thức 2-3-2 (2-2-2 trên hàng đầu tiên) với 38 chỗ. Đối với tất cả các máy bay A330-200s khác, hình thức ghế ngồi là 2-2-2 và tất cả đều có màn hình cá nhân phía sau ghế.

Hạng thương gia quốc tế được phục vụ trên máy bay Boeing 747, các máy bay Airbus A330-200s khai thác đường bay quốc tế, A330-300 và Airbus A380. Trên máy bay Boeing 747, hình thức ghế ngồi là 2-3-2 ở tầng dưới và 2-2 ở tầng trên. Đối với máy bay A330 thì hình thức này là 2-2-2 với các ghế ngồi rộng 21.5 inch và có thể ngả thành giường nằm. Ghế ngồi trên máy bay A330s và 747s đếu có một màn hình cảm ứng 10.4 inch với 400 chương trình. Trên máy bay A380, Qantas phục vụ 72 ghế hạng thương gia ở tầng trên theo hình thức 2-2-2 trên hai khoang khác nhau và các ghế ngồi có thể ngả thành giường nằm dài 2m. Mỗi hành khách đều có một màn hình 12 inch với 1000 chương trình giải trí. Trên khoang có một phòng khách cho khách hạng thương gia.

Tại sân bay, khách hạng thương gia có thể sử dụng phòng chờ của Qantas hoặc đối tác của hãng.

Hạng phổ thông đặc biệt

Hạng phổ thông đặc biệt chỉ có trên máy bay A380 và một số máy bay 747. Ghế ngồi trên máy bay A380 rộng 19.5 inch. Có tất cả 32 chỗ ngồi loại này ở tầng trên của máy bay A380 được sắp xếp theo hình thức 2-4-2.

Hạng phổ thông

Hạng phổ thông được phục vụ trên tất cả các máy bay của Qantas. Ghế ngồi hạng này thường rộng khoảng từ 17-17.5 inch.

Tổng hành dinh

Tổng hành dinh của Qantas được đặt ở Trung tâm Qantas tại Mascot ngoại thành của City of Botany Bay, Sydney, New South Wales.

Vào năm 1920 “Queensland and Northern Territory Aerial Services Ltd” có tổng hành dinh tại Winton, Queensland. Năm 1921 nó được chuyển về Longreach, Queensland và tới năm 1930 nó được chuyển về Brisbane. Năm 1957, tổng hành dinh chính của Qantas với tên gọi Qantas House được đặt tại phố Hunter, Sydney.[76] Vào thập niên 70, tổng hành dinh mới của Qantas, bao gồm cả tòa tháp đôi, trị giá 50 triệu đô Úc được xây dựng ở Sydney và được hoàn thành năm 1973

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Philippine Airlines

Philippine Airlines là hãng hàng không quốc gia của Philippines. Đây là hãng hàng không thương mại đầu tiên của châu Á và là hãng hàng không có tuổi đời lâu nhất trong các hãng đang hoạt động. Hãng có trụ sở tại thành phố Makati. Philippine Airlines thực hiện các chuyến bay nội địa và quốc tế. Đến tháng 12 năm 2006, hãng tuyên bố đã có 21 điểm đến nội địa và 32 thành phố khác trên thế giới. Trung tâm hoạt động của hãng nằm tại Sân bay quốc tế Ninoy Aquino ở tại thành phố Parañaque (của vùng đô thị Manila) với tất cả chuyến bay hành khách đi/đến Manila đều dùng Centennial Terminal 2. Hãng này được Skytrax đánh giá 3 sao.

Các trạm trung chuyển chính:

Sân bay quốc tế Ninoy Aquino
Sân bay quốc tế Mactan-Cebu

Phòng khách dành cho thành viên:

Mabuhay Lounges

Tổng hành dinh:

Thành phố Makati, Philippines

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Mandarin Airlines

Mandarin Airlines (華信航空; pinyin: Huáxìn Hángkōng) (Hoa Tín Hàng không) là một hãng hàng không khu vực và nội địa ở Đài Bắc, Đài Loan, là một công ty con của China Airlines. Trung tâm của hãng ở Sân bay Tùng Sơn Đài Bắc

Thành lập

1991

Các trạm trung chuyển chính:

Sân bay Tùng Sơn Đài Bắc

Sân bay quốc tế:

Đào Viên Đài Loan

Chương trình hành khách thường xuyên:

Dynasty Flyer

Phòng khách dành cho thành viên:

Dynasty Lounge

Công ty mẹ:

China Airlines

Tổng hành dinh:

Đài Bắc, Đài Loan

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Malaysia Airlines

Malaysia Airlines (viết tắt: MAS; tiếng Mã Lai: Penerbangan Malaysia) (MYX: MAS) là hãng hàng không quốc gia của Malaysia, phục vụ các chuyến bay quốc tế và nội địa. Đây là một trong bốn hãn được Skytrax bầu chọn là “5 sao”.

Thành lập:

1947 (dưới tên Malayan Airways)

Các trạm trung chuyển chính:

Sân bay Quốc tế Kuala Lumpur

Các điểm đến quan trọng:

Sân bay Quốc tế Kota Kinabalu
Sân bay Quốc tế Kuching

Chương trình hành khách thường xuyên:

Enrich by Malaysia Airlines

Phòng khách dành cho thành viên:

Golden Lounge

Công ty mẹ:

Penerbangan Malaysia Berhad

Tổng hành dinh:

Kuala Lumpur, Malaysia

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Deutsche Lufthansa

Deutsche Lufthansa AG là hãng hàng không lớn nhất nước Đức và lớn thứ hai châu Âu sau hãng Air France-KLM, nhưng xếp trên British Airways. Tên của hãng lấy từ Luft (trong tiếng Đức có nghĩa là “không khí”) và Hansa (theo Liên minh Hanse, nhóm buôn bán mạnh nhất thời trung cổ).

Lufthansa đặt hành dinh ở Cologne. Trung tâm hoạt động tại Sân bay quốc tế Frankfurt ở Frankfurt am Main. Một trung tâm thứ hai của hãng đặt ở Sân bay quốc tế Munich. Sau khi hãng thôn tín Swiss International Air Lines, Sân bay Zürich trở thành trung tâm thứ 3.

Lufthansa là thành viên sáng lập của Liên minh Star Alliance, liên minh hàng không lớn nhất thế giới, vốn được thành lập vào năm 1997, hiện tại (2010) đang có 18 hãng thành viên. Lufthansa Group hoạt động hơn 400 máy bay và hơn 100.000 nhân viên trên khắp thế giới. Năm 2006, 53.4 triệu hành khách bay với Lufthansa. Đến năm 2008, phát triển lên 70.5 triệu hành khách bay với Lufthansa, không bao gồm Germanwings, BMI, Austrian Airlines và Brussels Airlines.

Hình thành

Hãng được thành lập đầu tiên vào ngày 1 tháng 6 năm 1926 tại Berlin với tên ban đầu là Deutsche Luft Hansa Aktiengesellschaft, sau sự sát nhập giữa “Deutsche Aero Lloyd” và “Junkers Luftverkehr”. Ngày 9 tháng 12 năm 1927, Deutsche Luft Hansa đã thay mặt cho chính phủ Đức lập nên một thỏa thuận với chính phủ Tây Ban Nha về việc thiết lập dịch vụ bay giữa hai nước. Thỏa thuận này bao gồm cả việc đầu tư vốn để thành lập một hãng hàng không, là tiền thân của hãng Iberia sau này. Năm 1933, hãng lần đầu tiên sử dụng tên giao dịch Lufthansa.

Trước Thế chiến thứ hai, hãng đã từng thiết lập đường bay tới Đông Nam Á cũng như bay xuyên qua Đại Tây Dương sử dụng máy bay của Dornier, Junkers, Heinkel, Focke-Wulf và các máy bay khác của Đức. Hãng cũng có liên quan tới việc thành lập một số hãng hàng không Nam Mỹ thông qua công ty con là Condor Syndikat. Sau khi chiến tranh bùng nổ, Lufthansa chỉ duy trì đường bay tới các nước trung lập. Sau khi nước Đức bị chia cắt năm 1945, tất cả các đường bay của Lufthansa đều bị ngưng.

Tái lập

Vào ngày 6 tháng 1 năm 1953, Lufthansa được khôi phục lại dưới tên gọi Aktiengesellschaft für Luftverkehrsbedarf (Luftag) và được đổi thành Deutsche Lufthansa Aktiengesellschaft vào ngày 6 tháng 8 năm 1954. Ngày 1 tháng 4 năm 1955, Lufthansa khôi phục lại các đường bay trong phạm vi Tây Đức. Các đường bay quốc tế cũng nhanh chóng được lập lại với các chuyến bay trong châu Âu. Đường bay tới New York cũng được thành lập vào ngày 8 tháng 6 năm 1955, sử dụng máy bay của Lockheed Super Constellations. Các đường bay tới nam Đại Tây Dương cũng được thiết lập lại vào tháng 8 năm 1956.

Năm 1958, Lufthansa đặt hàng 4 chiếc Boeing 707 để phục vụ các chuyến bay từ Frankfurt đi New York vào tháng 3 năm 1960. Tháng 2 năm 1961, các đường bay tới Đông Nam Á được mở rộng tới Hong Kong và Tokyo sau đường bay tới Bangkok. Năm 1962 hãng cũng triển khai các đường bay tới Lagos và Johannesburg.

Năm 1964, Lufthansa đưa máy bay Boeing 727 vào phục vụ và trong tháng 5 năm đó, hãng đã thực hiện tuyến bay qua Bắc cực (Polar route) từ Frankfurt đi Tokyo. Tháng 2 năm 1965, hãng đã đặt hàng 20 máy bay Boeing 737 tầm trung, các máy bay này được đưa vào khai thác năm 1968. Lufthansa là một trong 4 hãng đầu tiên trên thế giới đặt hàng máy bay Boeing 737 thân rộng và là hãng nước ngoài đầu tiên khai thác loại máy bay thương mại chở khách này.

Kỷ nguyên máy bay thân rộng của Lufthansa được bắt đầu vào ngày 26 tháng 4 năm 1970 với việc khai trương các chuyến bay bằng máy bay Boeing 747. Năm 1971, Lufthansa bắt đầu thực hiện các chuyến bay tới Nam Phi. Năm 1979 máy bay Airbus A310 được Lufthansa và Swissair khai thác với một đơn đặt hàng 25 chiếc.

Chương trình hiện đại hóa đội bay cho thập niên 90 được bắt đầu vào ngày 29 tháng 6 năm 1985 với một đơn đặt hàng gồm 15 chiếc Airbus 320, 7 chiếc Airbus A300-600. Một vài ngày sau đó, hãng cũng đặt hãng 10 chiếc Boeing 737-300. Các máy bay này được giao trong khoảng năm 1987 đến 1992. Lufthansa cũng mua thêm máy bay Airbus A321 và Boeing 747-400.

Từ hãng hàng không của nước Đức…

Vào ngày 28 tháng 10 năm 1990, 25 ngày sau ngày nước Đức thống nhất, Berlin trở thành điểm đến của Lufthansa. Ngày 18 tháng 10 năm 1997 Lufthansa cùng với Air Canada, Scandinavian Airlines, Thai Airways và United Airlines sáng lập ra liên minh hàng không đầu tiên trên thế giới Star Alliance.

Năm 2000, Air One trở thành đối tác của Lufthansa và hầu hết các chuyến bay của Air One được thỏa thuận chỗ với Lufthansa. Tháng 6 năm 2003, Lufthansa mở nhà ga số 2 tại sân bay quốc tế Franz Josef Strauß, Munich nhằm giảm bớt sự quá tải của sân bay quốc tế Frankfurt. Đây là một trong những nhà ga hành khách đầu tiên ở châu Âu do một hãng hàng không sở hữu

…Trở thành tập đoàn hàng không quốc tế

Ngày 22 tháng 3 năm 2005, SWISS sát nhập với Lufthansa. Tuy nhiên cả hai hãng đều tiếp tục hoạt động độc lập.

Ngày 6 tháng 6 năm 2006 Lufthansa đặt hàng 20 chiếc Boeing 747-8, trở thành hãng vận chuyển lớn nhất của loại máy bay này. Hãng này cũng là hãng hàng không châu Âu thứ hai (sau Air France) khai thác máy bay Airbus A380, sau khi được bàn giao loại máy bay này vào ngày 19 tháng 5 năm 2010.

Ngày 14 tháng 12 năm 2006, Lufthansa và hãng hàng không giá rẻ của Mỹ Jetblue bắt đầu quá trình liên doanh thông qua việc Lufthansa mua lại 19% cổ phần của hãng này. Đây là lần đầu tiên một hãng hàng không của châu Âu đầu tư vào một hãng hàng không Hoa Kỳ sau khi thỏa thuận bầu trời mở giữa EU và Hoa Kỳ có hiệu lực vào năm 2008.

Ngày 15 tháng 9 năm 2008, Lufthansa nắm giữ 45% cổ phần của hãng Brussels Airlines và sẽ nắm giữ nốt 55% còn lại từ 2011. Theo thỏa thuận này, Brussels Airlines trở thành thành viên của Star Alliance vào tháng 12 năm 2009.

Ngày 28 tháng 10 năm 2008, Lufthansa thực hiện mua 60% cổ phần của hãng BMI. Với việc nắm giữ 20% cổ phần còn lại từ Scandinavian Airlines, Lufthansa đã sở hữu hoàn toàn BMI từ ngày 1 tháng 11 năm 2009

Tháng 11 năm 2008, Lufthansa và Austrian Airlines đạt được một thỏa thuận trong đó Lufthansa sẽ mua lại phần lớn cổ phần từ chính phủ Áo. Thỏa thuận này hoàn thành vào tháng 1 năm 2009. Cũng trong tháng này, Lufthansa công bố rằng hãng đang đàm phán với Scandinavian Airlines System về việc sát nhập giữa hai hãng.

Các công ty thành viên

Các hãng hàng không:

Air Dolomiti, một hãng hàng không có trụ sở tại Ronchi dei Legionari, Ý, được sở hữu hoàn toàn bởi Lufthansa.
Austrian Airlines, hãng hàng không quốc gia của Áo, trụ sở tại Schwechat, Áo, được sở hữu hoàn toàn bởi Lufthansa.
BMI, một hãng hàng không của Anh, được sở hữu hoàn toàn bởi Lufthansa.
Brussels Airlines, hãng hàng không quốc gia của Bỉ.
Edelweiss Air, một thành viên của SWISS.
Eurowings một hãng hàng không địa phương của Đức.
Germanwings, được sở hữu hoàn toàn bởi Lufthansa.
Jade Cargo International, liên doanh hàng không, Lufthansa Cargo chiếm 25% cổ phần
JetBlue Airways, liên doanh hàng không, Lufthansa chiếm 19% cổ phần
Lufthansa Cargo
Lufthansa CityLine
Lufthansa Italia, một nhánh mới của Lufthansa, khai thác các đường bay từ Milan
Luxair – Lufthansa giữ 13% cổ phần.
SunExpress, hãng hàng không có trụ sở tại Antalya, Thổ Nhĩ Kỳ
Swiss International Air Lines, hãng hàng không quốc gia Thụy Sĩ có trụ sở tại Basel

Các đơn vị khác:

Delvag, công ty bảo hiểm hàng không
Global Load Control
LSG Sky Chefs
Lufthansa Flight Training
[[Lufthansa Regional]
Lufthansa Systems
Lufthansa Technik

Điểm đến

Lufthansa có mạng đường bay tới 18 điểm đến trong nước và 185 điểm đến quốc tế tại 78 nước tại châu Á, châu Âu, châu Phi và châu Mỹ. Bao gồm cả các đường bay được khai thác bởi Lufthansa City Line, Lufthansa Regional, Cirrus Airlines và Privatair

Các chuyến bay chặng dài

Khoang hạng nhất: Khoang hạng nhất của Lufthansa có trên máy bay Boeing 747, Airbus A330 và Airbus A340. Mỗi ghế ngồi đều có thể chuyển thành một giường nằm rộng 2m, có ổ cắm laptop và các công cụ giải trí khác. Bữa ăn được phục vụ theo yêu cầu. Lufthansa có quầy check-in dành cho khách hạng nhất tại hầu hết các sân bay cũng như phòng chờ hạng nhất tại sân bay Frankfurt và Munich. Tại sân bay Frankfurt, khách hạng nhất sẽ sử dụng nhà ga dành riêng cho khách hạng nhất.

Khoang hạng thương gia: Dịch vụ hạng thương gia có trên tất cả các chuyến bay đường dài của Lufthansa. Mỗi ghế ngồi đều có thể duỗi ra thành một giường nằm dài 2m, có ổ cắm laptop và các công cụ giải trí khác. Lufthansa có quầy check-in dành cho khách hạng thương gia cũng như phòng chờ hạng thương gia tại tại tất cả các sân bay.

Hạng phổ thông: Khách hàng hạng phổ thông đễu được phục vụ suất ăn và đồ uống miễn phí. Năm 2007, Lufthansa bắt đầu cung cấp màn hình cá nhân trên mỗi ghế ngồi.

Các chuyến bay trong châu Âu

Hạng thương gia: Dịch vụ hạng thương gia trên các chuyến bay chặng ngắn của Lufthansa được phục vụ trên máy bay A319, A320, A321 và B737. Hành khách sẽ được phục vụ bữa ăn và đồ uống cũng như sử dụng quầy check-in và phòng chờ hạng thương gia. Trên tất cả các chuyến bay chặng ngắn, dịch vụ giải trí trên chuyến bay không được phục vụ.

Hạng phổ thông: Được phục vụ trên tất cả các chuyến bay chặng ngắn của Lufthansa. Hành khách được phục vụ đồ uống và bữa ăn nhẹ.

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Lion Air

Lion Air là một hãng hàng không tại Jakarta, Indonesia. Hãng có 35 điểm bay nội địa, và các chuyến bay thường xuyên đến Singapore và Malaysia. Tên đầy đủ của hãng PT Lion Mentari Airlines. Trụ sở chính đặt tại Sân bay quốc tế Soekarno-Hatta , Jakarta

Lịch sử

Hãng được thành lập từ tháng 10 năm 1999 , và bắt đầu hoạt động vào ngày 30 tháng 07 năm 2000. Hãng sử dụng máy bay Boeing 737-200 là chính

Điểm đến

Đông Nam Á

* Indonesia
o Java
+ Jakarta – Sân bay quốc tế Soekarno-Hatta Trạm trung chuyển chính
+ Semarang – Sân bay Achmad Yani
+ Surakarta – Sân bay quốc tế Adisuarmo
+ Surabaya – Sân bay quốc tế Juanda Trạm trung chuyển chính
+ Yogyakarta – Sân bay quốc tế Adisucipto
o Kalimantan
+ Balikpapan – Sân bay quốc tế Sepinggan
+ Banjarmasin – Sân bay Syamsudin Noor
+ Pontianak – Sân bay Supadio
+ Tarakan – Sân bay Juwata
o Quần đảo Nusa Tenggara
+ Bima – Sân bay Bima
+ Denpasar – Sân bay Ngurah Rai
+ Kupang – Sân bay El Tari
+ Mataram – Sân bay Selaparang
o Maluku
+ Ambon – Sân bay Pattimura
+ Ternate – Sân bay Babullah
+ Tual – Sân bay Tual
o Papua, Indonesia
+ Fakfak – Sân bay Fakfak
+ Jayapura – Sân bay Sentani
+ Kaimana – Sân bay Kaimana
+ Nabire – Sân bay Nabire
+ Sorong – Sân bay Sorong
o Sulawesi
+ Gorontalo – Sân bay Jalaluddin
+ Kendari – Sân bay Wolter Monginsidi
+ Makassar – Sân bay quốc tế Hasanuddin
+ Manado – Sân bay Sam Ratulangi
+ Palu – Sân bay Mutiara
+ Tahuna – Sân bay Tahuna
o Sumatra
+ Banda Aceh – Sân bay Sultan Iskandarmuda
+ Jambi – Sân bay Sultan Thaha
+ Batam – Sân bay Hang Nadim
+ Bengkulu – Sân bay Padang Kemiling
+ Medan – Sân bay quốc tế Polonia
+ Padang – Sân bay quốc tế Minangkabau
+ Palembang – Sân bay Sultan Mahmud Badaruddin II
+ Pangkal Pinang – Sân bay Pangkal Pinang
+ Pekanbaru – Sân bay Sultan Syarif Kasim II
o Nusa Tenggara Barat
+ Sumbawa Besar – Sân bay Sumbawa Besar
* Malaysia
o Kuala Lumpur – Sân bay quốc tế Kuala Lumpur
o Penang – Sân bay quốc tế Penang
* Singapore
o Singapore – Sân bay quốc tế Singapore Changi
* Vietnam
o Thành phố Hồ Chí Minh – Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất

Trung Đông

* Saudi Arabia
o Jeddah – Sân bay quốc tế King Abdulaziz

Máy bay

Tính đến 16.12.2009

Máy bay    Số chiếc    Đặt hàng    Số ghế    Ghi chú
Boeing 737-300
2    0    148
Boeing 737-400
8    0    158
Boeing 737-900ER
31    147    213
Boeing 747-400
2    0    496
McDonnell Douglas MD-82
1    0    172
McDonnell Douglas MD-90
4    0    172
Tổng cộng    48    147        Lần cuối cập nhật: 27.12.2009
Tuổi thọ máy bay: 9.9 năm (tháng 12.2009)

Thành lập:

1999

Các trạm trung chuyển chính:

Jakarta

Chương trình hành khách thường xuyên:

Lion Passport

Phòng khách dành cho thành viên:

Lion King Lounge và Simba Lounge

Tổng hành dinh:

Jakarta

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Lao Airlines

Lao Airlines là một hãng hàng không có trụ sở ở Viêng Chăn, Lào. Đây là hãng hàng không quốc gia của Lào với các tuyến bay Campuchia, Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam. Căn cứ chính của hãng này là Sân bay quốc tế Wattay, Vientiane

Lịch sử

Hãng hàng không này được lập và bắt đầu hoạt động vào tháng 9 năm 1976 với tên gọi Lao Aviation. Tên gọi này đã được đổi thành Lao Airlines vào đầu năm 2003. Hãng này thuộc sở hữu của Chính phủ Lào

Các tuyến điểm

Đến tháng 11 năm 2008, Lao Airlines cung cấp dịch vụ bay theo lịch trình đến các điểm đến sau:

Phnôm Pênh
Siem Reap

Trung Quốc
Kunming

Lào
Houei Sai (Sân bay Ban Houeisay)
Luang Prabang (Sân bay quốc tế Luang Prabang)
Oudomxay (Sân bay Oudomsay)
Pakse (Sân bay Pakse)
Viêng Chăn (Sân bay quốc tế Wattay)
Xieng Khuang (Sân bay Xieng Khouang)
Luang Namtha (Sân bay Louangnamtha)
Savannakhet (Sân bay Savannakhet)

Thái Lan
Bangkok
Chiang Mai
Udon Thani

Việt Nam
Hà Nội

Thành lập:

1976

Các trạm trung chuyển chính:

Sân bay quốc tế Wattay
Sân bay quốc tế Luang Prabang

Tổng hành dinh:

Viêng Chăn, Lào

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Korean Air

Korean Air (Korean Air Daehan Hanggong (Đại Hàn Hàng không) là hãng hàng không lớn nhất có trụ sở tại Hàn Quốc. Là một trong những hãng hàng không lớn nhất châu Á, hãng hoạt động trên các tuyến bay nối châu Âu, châu Phi, châu Á, Úc, Bắc Mỹ và trước đây là Nam Mỹ với Sân bay Quốc tế Incheon và trung tâm hoạt động nội địa của hãng ở Sân bay quốc tế Gimpo . Hãng này cạnh tranh với hãng nhỏ, có đội tàu bay trẻ hơn là hãng Asiana Airlines.

Trong những năm gần đây, Korean Air đã nâng cấp đội tàu bay và dịch vụ của mình và đã giành được nhiều giải thưởng và công nhận quốc tế. Với tình hình tài chính tốt trong năm 2005, Korea Air đã nhận được giải “Phoenix Award” (Giải thưởng Phượng Hoàng) từ Tổ chức Vận tải Hàng không Thế giới (Air Transport World (ATW) vì thành công của hãng trong việc vượt qua các thách thức trong ngành hàng không toàn cầu. Hãng này được độc giả của tạp chí Time bình chọn là một trong những hãng tốt nhất châu Á và hai lần nhận được giải Thủy Ngân (Mercury Award) về cung cấp dịch vụ trong chuyến bay.

Korean Air có một đơn vị cung cấp dịch vụ vận tải hàng hoá bằng đường hàng không lớn là Korean Air Cargo, đơn vị trong năm 2005 đã vượt Lufthansa để trở thành đơn vị kinh doanh vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không lớn nhất thế giới.

Duy nhất trong các hãng hàng không, Korean Air tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu và chế tạo không gian vũ trụ. Đơn vị này có tên là Ban Không gian Vũ trụ Đại Hàn Hàng không (Korean Air Aerospace Division (KAA), sản xuất phiên bản có giấy phép loại máy bay trực thăng MD 500 và UH-60 Black Hawk và loại máy bay chiến đấu F-5E/F Tiger II[1], thân đuôi và cánh của máy bay chiến đấu KF-16 được sản xuất bởi hãng Korean Aerospace Industries[2], và phụ tùng cho các loại máy bay thương mại bao gồm Boeing 737, 747, 777, và máy bay Airbus A330, và A380.[3] KAA cũng cung cấp dịch vụ hỗ trợ bảo dưỡng máy bay cho Bộ Quốc phòng Mỹ tại châu Á và duy trì một đơn vị nghiên cứu tập trung vào phương tiện phóng (launch vehicle), vệ tinh, máy bay quân sự và thương mại, máy bay trực thăng và các hệ thống mô phỏng.[4]

Lịch sử

Korean Air bắt đầu năm 1962 với tên gọi Korean Air Lines và thuộc sở hữu của Chính phủ Hàn Quốc. Hãng này thay thế hãng cũ của là Korean National Airlines. Năm 1969 KAL được Tập đoàn Vận tải Hanjin mua lại và trở thành công ty tư nhân.

Các chuyến bay đi Hồng Kông, Đài Loan, và Los Angeles được thực hiện bằng tàu bay Boeing 707 cho đến khi du nhập loại tàu bay Boeing 747 năm 1973. Năm 1973, KAL sử dụng Boeing 747 trên các tuyến Thái Bình Dương và bắt đầu phục vụ đi châu Âu đến Paris sử dụng loại 707 và DC-10. KAL cũng là khách hàng sử dụng Airbus đầu tiên ngoài châu Âu. Ngày 1 tháng 9 năm 1983, Chuyến bay số 007 của Korean Air Lines, cũng được gọi là KAL 007 hay KE007, đã bị các máy bay phản lực đánh chặn của Liên Xô bắn rơi ngay ở phía Tây của Đảo Sakhalin. Máy bay đang mang theo 269 hành khách và phi hành đoàn vào lúc đó, bao gồm có nghị sỹ Mỹ Lawrence McDonald. Không có ai sống sót. Liên Xô tuyên bố rằng họ không biết đó là tàu bay dân sự và cho rằng chiếc máy bay này đã đi vào không phận Liên Xô như một sự khiêu khích có chủ ý để thử khả năng phản ứng của Liên Xô.

A blue-top livery đã được sơn lên máy bay của hãng ngày 1 tháng 3 năm 1984 và tên của hãng đã được đổi thành Korean Air từ tên cũ Korean Airlines (Tuy nhiên, tên này vẫn được dùng trong các tài liệu chính thức). Màu sắc và logo này được sơn lên lần đầu lên chiếc Fokker F28 của hãng. Lo go và màu sắc này được thực hiện với sự hợp tác giữa Korean Air và hãng Boeing. Trong thập niên 1990 Korean Air đã trở thành hãng hàng không đầu tiên sử dụng máy bay MD-11 mới để bổ sung cho đội tàu bay mới của mình là những chiếc Boeing 747-400. Tuy nhiên, MD-11 không thoả mãn yêu cầu vận hành đã đặt ra. Do đó, những chiếc MD-11 của hãng đã được cải hoán thành máy bay vận tải hàng hóa (cùng với các máy bay vận tải hàng 747). Năm 1998, một cuộc khủng hoảng kinh tế đã tấn công Hàn Quốc dẫn đến việc giảm sút về hành khách và hàng hóa cũng như điểm đến của hãng. Hiện nay, Korean Air bay đến phần lớn các điểm đến ở Hoa Kỳ mà bất cứ hãng hàng không châu Á nào bay tới (10 passenger cities in the 50 states). Korean Air hiện sở hữu 25% cổ phần của hãng Okay Airways, một hãng hàng không có trụ sở ở Thiên Tân, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Korean Air cũng có ý định tạo ra một trung tâm hoạt động nữa ở Trung Quốc. Khoảng năm 1997, Korean Air đã thành lập hãng KAL Catering, việc lập hãng này khiến cho Korean Air rút khỏi các hợp đồng với LSG Sky Chefs và tạo một hợp đồng mới với servair.

Tháng 10 năm 2006, Korean Air đã giành được danh dự giải nhất của TIME Readers’ Travel Choice Awards 2006 cho hãng hàng không có hạng thương gia tốt nhất và và giải Best Frequent Flyer Program đối với chương trình Skypass của hãng. Korean Air cũng được xếp hạng nhì về thể loại hãng hàng không được ưu thích. Tạp chí TIME đã tiến hành thăm dò bạn đọc của mình để có giải thưởng TIME Readers’ Travel Choice Awards 2006 từ 24 tháng 4 đến 25 tháng 6 năm 2006

Công tác đảm bảo an toàn

Từ giữa thập niên 1980 đến cuối thập niên 1990, hãng Korean Air đã có vấn đề về an toàn. Trên thực tế, liên minh SkyTeam đã có lúc trong một thời gian ngắn loại hãng Korean Air ra khỏi chương trình hợp tác chia chỗ của mình cho đến khi hãng đã chứng tỏ được khả năng đảm bảo an toàn của mình. Cục hàng không Dân dụng Liên bang Hoa Kỳ, cơ quan điều phối sự ra vào không phận Hoa Kỳ đã khuyến cáo đội ngũ quản lý của Korean Air rằng quyền vào không phận của hãng sẽ bị hạn chế trừ phi sắp tới hãng có những thay đổi quyết liệt. Quân đội Mỹ và Bộ Ngoại giao Mỹ đã khuyên công dân của họ tránh đi bằng máy bay của hãng Korean Air nếu các hãng thương mại khác sẵn sàng. Đối thủ cạnh tranh của hãng là Asiana Airlines, đã thu lợi kếch xù từ việc suy giảm uy tín của hãng Korea Air trong khi lý lịch về an toàn cra Asian tốt hơn.

Kể từ khi chuyển sang thế kỷ 21, Korean Air đã chứng tỏ những cải tiến mạnh mẽ về công tác an toàn và đã áp dụng các nguyên tắc hiện đại của CRM (Crew Resource Management). Tháng 10 năm 2006, Korean Air đã giành được giải nhất trong cuộc bình chọn của bạn đọc tạp chí TIME đã cho thấy hãng đã giành lại lòng tin của khách đối với mình.

Thành lập

1962 (tư nhân hóa năm 1969)

Các trạm trung chuyển chính:

Incheon Int’l Airport
Sân bay quốc tế Gimpo

Các điểm đến quan trọng:

Sân bay quốc tế Gimhae
Sân bay quốc tế Jeju

Chương trình hành khách thường xuyên:

SKYPASS

Phòng khách dành cho thành viên:

Sảnh của Korean Air

Liên minh:

SkyTeam

Công ty mẹ:

Hanjin Group

Khẩu hiệu:

Excellence in Flight

Tổng hành dinh:

Flag of South Korea.svg Seoul, Hàn Quốc

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Jetstar Pacific Airlines

Công ty Hàng không Cổ phần Jetstar Pacific Airlines (Jetstar Pacific Airlines Joint Stock Aviation Company), hoạt động với tên gọi Jetstar Pacific, là một hãng hàng không giá rẻ có trụ sở tại Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất (SGN), Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Hãng điều hành các dịch vụ bay chở hành khách và hàng hoá tới các điểm đến trong nước và quốc tế. Hãng này hiện đang trải qua giai đoạn tái cơ cấu sở hữu và rà soát lại toàn bộ hoạt động. Ngày 26/4/2007 Hãng hàng không quốc gia Australia – Qantas Airways đã mua 30% cổ phần để trở thành cổ đông chiến lược và hỗ trợ để hãng này hoạt động và phát triển theo mô hình hàng không giá rẻ giống Jetstar (Jetstar cũng là hãng hàng không giá rẻ do Qantas Airways điều hành và đã thành công trong nhiều năm qua). Ngày 23.05.2008, hãng này đã chính thức đổi tên và biểu tượng, từ Pacific Airlines trở thành hãng hàng không Jetstar Pacific Airlines, hãng hàng không giá rẻ đầu tiên của Việt Nam.

Lịch sử

Hãng được thành lập và đi vào hoạt động theo các Quyết định số 116/CT ngày 13 tháng 4 năm 1991 và số 188/CT ngày 15 tháng 6 năm 1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, các Quyết định số 2355 QĐ/TCCB-LĐ ngày 12 tháng 12 năm 1990 và Quyết định số 2016 QĐ/TCCB-LĐ ngày 20 tháng 9 năm 1992 của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải và Bưu điện.

Đây là hãng hàng không không thuộc sở hữu nhà nước đầu tiên được thành lập tại Việt Nam sau khi luật được sửa đổi cho phép đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực hàng không trong nước. Các cổ đông ban đầu gồm 7 doanh nghiệp nhà nước với số vốn 40 tỷ đồng, trong đó Cục hàng không dân dụng Việt Nam (Vietnam Civil Aviation) và 4 doanh nghiệp thành viên đã chiếm 86,49% cổ phần. Hai cổ đông còn lại là Tổng công ty Du lịch Sài Gòn (Saigon Tourist, 13,06%) và Công ty Thương mại Đầu tư Phát triển Giao thông Vận tải (Tradevico, 0,45%).

Năm 1993, Cục hàng không dân dụng Việt Nam tái cấu trúc thành trở thành Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines). Các cổ phần của Cục hàng không dân dụng chuyển sang cho Vietnam Airlines (VNA). Năm 1995, Pacific Airlines trở thành đơn vị thành viên của Vietnam Airlines và từ năm 1996, là thành viên của Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines Corporation). Các cổ phần của VNA và các doanh nghiệp thành viên chuyển lại thống nhất cho Tổng công ty Hàng không Việt Nam quản lý. Số cổ đông của PA chỉ còn 3 cổ đông.

Ngày 21 tháng 1 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 64/2005/QĐ-TTg chuyển toàn bộ 86,49% cổ phần của Tổng công ty Hàng không Việt Nam cho Bộ Tài chính thay mặt Nhà nước quản lý và tái cơ cấu. PA phải cắt bớt đường bay không hiệu quả (tuyến Đà Nẵng – Hồng Kông, TP. Hồ Chí Minh – Đài Bắc, TP.Hồ Chí Minh – Cao Hùng) và đàm phán lại để giảm chi phí thuê máy bay. Nhờ đó hãng đã phần nào giảm được các khoản lỗ.

Tháng 8 năm 2006, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) được thành lập trực thuộc Bộ Tài chính, cổ phần của nhà nước do Bộ Tài chính nắm giữ được chuyển sang cho SCIC điều hành.

Ngày 26 tháng 4 năm 2007,tập đoàn Qantas – Australia đã ký kết Hợp đồng đầu tư với Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) về việc mua 30% cổ phần của Pacific Airlines (Jetstar Pacific) để trở thành cổ đông chiến lược vì họ muốn hãng hàng không giá rẻ của riêng mình là Jetstar Airways có địa điểm đặt chân vào Châu Á. Theo thỏa thuận ban đầu, Quantas sẽ đầu tư 50 triệu USD để được sở hữu 18% cổ phần của PA, sau đó sẽ đầu tư thêm để được sở hữu 30%. Nhờ số tiền này mà PA có thể cắt lỗ, nhưng đổi lại sẽ chuyển sang dùng thương hiệu Jetstar Pacific Airlines. Số lượng cổ đông cũng như tỷ lệ cổ phần cũng thay đổi như sau: SCIC (75,78%), Qantas Airways (18%), Saigon Tourist (6,18%) và ông Lương Hoài Nam – Tổng giám đốc (0,04%). Như vậy, cho đến thời điểm hiện tại, chỉ còn mỗi một cổ đông sáng lập là Saigon Tourist.

Tính đến thời điểm này (2010), Jetstar Pacific là hãng hàng không lớn thứ hai trong nước, chiếm 40% thị phần vận chuyển hành khách trên tuyến bay chính của họ giữa Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội và chiếm tổng cộng 5% thị trường hàng không nội địa.

Hiện tại (2010), Jetstar Pacific là hãng hàng không duy nhất của Việt Nam hoàn toàn không sử dụng vé giấy, cung cấp 100% vé điện tử và thanh toán bằng thẻ tín dụng trên mạng qua website của họ cũng như dịch vụ giữ chỗ qua điện thoại 24/24 7/7 cho khách hàng qua hai trung tâm 39.550.550 của họ tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Với những người không sở hữu thẻ tín dụng, hơn 200 đại lý trên toàn Việt Nam có thể cung cấp các dịch vụ đặt chỗ và bán vé.

Đội máy bay

Tính đến tháng 07 năm 2010, máy bay của Jetstar Pacific gồm những chiếc sau:

* 5 Boeing 737-400.
* 2 Airbus A320 .

Jetstar Pacific hiện đang khai thác dòng máy bay chủ yếu là Boeing B737 – một trong những dòng máy bay thành công nhất trong lịch sử hàng không thế giới, được sản xuất ra với số lượng lớn hơn bất kỳ dòng máy bay nào khác (hơn 5000 chiếc, chiếm 1/4 số lượng máy bay phản lực đã xuất xưởng), là máy bay được các hãng hàng không giá rẻ nổi tiếng trên thế giới lựa chọn, từ Southwest Airlines (Mỹ) cho đến Ryanair và easyJet (châu Âu), Virgin Blue (Úc), GOL (Mỹ La-tinh) và nhiều hãng hàng không khác. Máy bay B737-400 của Jetstar Pacific có 168 ghế hạng phổ thông (economy class). Cùng với sự phát triển của Jetstar Pacific, hiện nay, hãng này đưa vào khai thác thêm dòng máy bay Airbus A320 với biểu tượng mới. Trong tương lai, hãng sẽ thay đổi toàn bộ máy bay, chuyển thành Airbus A320

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Japan Airlines Corporation

Japan Airlines Corporation (Nhật: 株式会社日本航空, Kabushiki-gaisha Nihon Kōkū?) (TYO: 9205), or JAL, là hãng hàng không lớn nhất ở châu Á.

Hai công ty hoạt động dưới thương hiệu của JAL là: Japan Airlines International (Nhật: 日本航空インターナショナル, Nihon Kōkū Intānashonaru?) và Japan Airlines Domestic (Nhật: 日本航空ジャパン, Nihon Kōkū Japan?). Japan Airlines Domestic đầu tiên chịu trách nhiệm cho hệ thống rộng lớn của các chuyến bay nội địa Nhật Bản, còn JAL International hoạt động quốc tế và các chuyến bay chủ lực nội địa. Ngày 1/10/2006, Japan Airlines International và Japan Airlines Domestic đã sáp nhập thành một thương hiệu Japan Airlines International. JAL Corporation cũng có bảy hãng nhỏ hơn để thu gom cho hãng mẹ:

* Hokkaido Air System
* JAL Express
* JALways
* J-Air
* Japan Air Commuter
* Japan Asia Airways
* Japan Transocean Air

JAL có đội tàu bay Boeing 747 nhiều nhất thế giới (khoảng 76, thời điểm tháng 3 2005). Đây là 1 trong 2 hãng hàng không châu Á bay đến Mỹ Latin (Malaysia Airlines bay đến Buenos Aires, JAL bay đến Ciudad de Mexico và São Paulo).

Japan Airlines gia nhập liên minh oneworld ngày 1 tháng 4 năm 2007.

Các trạm trung chuyển chính

Sân bay quốc tế Narita
Sân bay quốc tế Tokyo
Cảng hàng không quốc tế Kansai
Sân bay quốc tế Osaka

Các điểm đến quan trọng

Sân bay quốc tế Chubu

Chương trình hành khách thường xuyên:

JAL Mileage Bank

Phòng khách dành cho thành viên:

SAKURA Lounge

Liên minh:

Oneworld (vào 1 tháng 4, 2007)

Công ty mẹ:

Japan Airlines Corp.

Tổng hành dinh:

Tokyo, Japan

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Hong Kong Airlines

Hong Kong Airlines (Tiếng Hoa : 香港航空公司) là hãng hàng không lớn thứ 2 của Hồng Kông, sau Cathay Pacific. Trụ sở chính của hãng được đặt tại Sân bay quốc tế Hồng Kông.

Lịch sử

Hãng được thành lập năm 2001 với tên gọi CR Airways và bắt đầu hoạt động từ 05.07.2003. Hãng được đổi tên lại thành Hong Kong Airlines từ 30.09.2006. Nắm giữ cổ phần của hãng Robert Yip Kwong (51%) và Yu Ming Investments (4%), Ông Mr Mung Kin Keung chiếm phần còn lại

Điểm đến

Trung Quốc
Trường Sa, Hồ Nam – Sân bay quốc tế Trường Sa Hồ Nam
Quế Lâm – Sân bay quốc tế Lưỡng Giang Quế Lâm
Hải Khẩu – Sân bay quốc tế Mỹ Lan Hải Khẩu
Côn Minh – Sân bay quốc tế Vu Gia Bá
Hạ Môn – Sân bay quốc tế Cao Khi Hạ Môn

Hong Kong
Sân bay quốc tế Hong Kong Trụ sở

Vietnam
Hanoi – Sân bay quốc tế Nội Bài
Thành phố Hồ Chí Minh – Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất(Hàng hóa)

Thành lập:

2001 (với tên CR Airways)

Các trạm trung chuyển chính

Sân bay quốc tế Hồng Kông

Công ty mẹ:

Hainan Airlines

Tổng hành dinh:

Hồng Kông, Trung Quốc

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Hainan Airlines

Hainan Airlines là một hãng hàng không Trung Quốc. Hãng này có trung tâm hoạt động tại Sân bay quốc tế Mỹ Lan Hải Khẩu, Hải Nam. Ngoài ra hãng cũng có trung tâm khác tại Sân bay quốc tế Thủ Đô Bắc Kinh, Sân bay quốc tế Hàm Dương Tây An, Sân bay Wusu Thái Nguyên và Sân bay quốc tế Diwopu Urumqi. Đây là hãng vận tải hàng không tư nhất lớn nhất, là hãng hàng không lớn thứ tư về quy mô ở Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Hãng này có 500 tuyến bay từ Hải Ngày 30 tháng 12 năm 2007, bốn hãng hàng không thuộc HNA group, Hainan Airlines, Shanxi Airlines, Chang’an Airlines, và China Xinhua Airlines đã sáp nhập vào Grand China Air (Chinese: 大新華航空), là hàng hàng không lớn thứ 4 ở Trung Quốc

Thành lập

1989

Các trạm trung chuyển chính:

Sân bay quốc tế Mỹ Lan Hải Khẩu (HAK)
Sân bay quốc tế Thủ Đô Bắc Kinh (PEK)

Các điểm đến quan trọng:

Sân bay quốc tế Hàm Dương Tây An (XIY)
Sân bay Vũ Tú Thái Nguyên (TYN)
Sân bay quốc tế Dwopo Urumqi (URC)
Sân bay quốc tế Phượng Hoàng Tam Á (SYX)
Sân bay quốc tế Tân Hải Thiên Tân (TSN)
Sân bay quốc tế Lishe Ningbo (NGB)

Chương trình hành khách thường xuyên:

Fortune Wings Club

Công ty mẹ:

Grand China Air

Tổng hành dinh:

Haikou, Hải Nam, CHND Trung Hoa

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Garuda Indonesia

PT (Persero) Perusahaan Penerbangan Garuda Indonesia, viết tắt Garuda Indonesia, là hãng hàng không quốc gia của Indonesia. Tên của hãng được đặt theo loài chim thần thoại Garuda. Trong truyền thống Vedic Ấn Độ, Garuda là loài chim mang thần Vishnu của Hindu god Vishnu. Hãng này có trụ sở tại Jakarta tại Sân bay quốc tế Soekarno-Hatta, với trung tâm hoạt động tại: Sân bay quốc tế Ngurah Rai, Bali, Sân bay quốc tế Juanda, Surabaya, Sân bay quốc tế Polonia, Medan, Sân bay quốc tế Sepinggan, Balikpapan, và Sân bay quốc tế Changi Singapore, Singapore.[cần dẫn nguồn] Hãng này là công ty quốc doanh và sử dụng 6.285 nhân công (tháng 3 năm 2007)

Điểm đến

Do EU cấm tất cả 51 hãng hàng không của Indonesia đến Châu Âu tháng 7/2007 vì lý do an toàn bay, nên một số đường bay đến châu Âu của Garuda Indonesia đều phải thực hiện dưới dạng liên danh (code share). Song tháng 7/2009, EU đã dỡ bỏ lệnh cấm vận này đối với Garuda, lý do là hãng này đã nâng cao độ an toàn trong việc chuyên chở khách. Garuda hy vọng sẽ nối lại đường bay sang Hà Lan đầu năm 2010 (theo bbc.co.uk).

Châu Á

Đông Á
Trung Quốc
Bắc Kinh (Sân bay quốc tế Thủ Đô Bắc Kinh)
Quảng Châu (Sân bay quốc tế Bạch Vân Quảng Châu)
Hồng Kông (Sân bay quốc tế Hong Kong)
Thượng Hải (Sân bay quốc tế Phố Đông Thượng Hải)
Nhật Bản
Nagoya (Sân bay quốc tế Chubu) (từ 02.06.08)
Naha (Sân bay quốc tế Naha) (từ T8.2008)
Osaka (Sân bay quốc tế Kansai)
Tokyo (Sân bay quốc tế Narita)
Hàn Quốc
Seoul (Sân bay quốc tế Incheon)

Đông Nam Á
Indonesia
Tập tin:Garuda domestic map.PNG
Mạng bay nội địa của Garuda Indonesia
(T2 2008)
Ampenan (Sân bay Selaparang)
Balikpapan (Sân bay quốc tế Sepinggan ) Điểm đến quan trọng
Banda Aceh (Sân bay Sultan Iskandarmuda)
Bandung (Sân bay quốc tế Husein Sastranegara) với Citilink
Banjarmasin (Sân bay Syamsudin Noor)
Batam (Sân bay Hang Nadim)
Biak (Sân bay Frans Kaisiepo)
Denpasar (Sân bay quốc tế Ngurah Rai) Trụ sở chính
Jakarta (Sân bay quốc tế Soekarno-Hatta) Trụ sở chính
Jayapura (Sân bay Sentani)
Makassar (Sân bay quốc tế Hasanuddin)
Malang (Sân bay Abdul Rachman Saleh)
Manado (Sân bay quốc tế Sam Ratulangi)
Medan (Sân bay quốc tế Polonia)
Padang (Sân bay quốc tế Minangkabau)
Palangkaraya (Sân bay Tjilik Riwut)
Palembang (Sân bay quốc tế Sultan Mahmud Badaruddin II)
Pekanbaru (Sân bay quốc tế Sultan Syarif Kasim II)
Pontianak (Sân bay Supadio)
Semarang (Sân bay Achmad Yani)
Solo (Sân bay quốc tế Adisumarmo)
Surabaya (Sân bay quốc tế Juanda) Điểm đến quan trọng
Timika (Sân bay Timika)
Yogyakarta (Sân bay quốc tế Adisucipto)
Malaysia
Kuala Lumpur (Sân bay quốc tế Kuala Lumpur)
Labuan (Sân bay Labuan)
Penang (Sân bay quốc tế Penang) Hàng hóa
Philippines
Manila (Sân bay quốc tế Ninoy Aquino) Hàng hóa
Singapore
Singapore (Sân bay quốc tế Changi Singapore) Điểm đến quan trọng
Thái Lan
Bangkok (Sân bay quốc tế Suvarnabhumi)
Việt Nam
Thành phố Hồ Chí Minh (Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất)

Nam Á
Ấn Độ
Chennai (Sân bay quốc tế Chennai)
Hyderabad (Sân bay quốc tế Rajiv Gandhi) (từ T6.2008)[1]

Tây Á
Ả rập Xê út
Jeddah (Sân bay quốc tế King Abdulaziz)
Riyadh (Sân bay quốc tế King Khalid)
Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất
Dubai (Sân bay quốc tế Dubai)

Châu Đại Dương
Úc
Darwin (Sân bay quốc tế Darwin)
Melbourne (Sân bay quốc tế Melbourne)
Perth (Sân bay Perth)
Sydney (Sân bay quốc tế Kingsford Smith)

Thành lập:

26 tháng 01 năm 1949 (với tên gọi Garuda Indonesian Airways)

Các trạm trung chuyển chính:

Sân bay quốc tế Soekarno-Hatta
Sân bay quốc tế Ngurah Rai
Sân bay quốc tế Juanda
Sân bay quốc tế Sepinggan
Sân bay quốc tế Polonia
Sân bay quốc tế Changi Singapore

Các điểm đến quan trọng:

Semarang, Yogyakarta, Palembang, Padang, Batam, Manado, and Makassar

Chương trình hành khách thường xuyên:

Garuda Frequent Flyer

Phòng khách dành cho thành viên:

Garuda Lounge

Công ty mẹ:

Garuda Indonesia

Tổng hành dinh:

Jakarta, Indonesia

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm
Gọi ngay