Hãng hàng không EVA Air

EVA Air (tiếng Hoa:長榮航空 Chángróng Hángkōng (Trường Vinh Hàng không) là một hãng hàng không Đài Loan có trụ sở tại Sân bay quốc tế Đào Viên Đài Loan gần Đài Bắc, Đài Loan, hoạt động vận chuyển hành khách và hàng hoá đến các điểm tại châu Á, Australia, New Zealand, châu Âu, và Bắc Mỹ. Hãng này là một công ty con của Tập đoàn Evergreen Group,[1] EVA Air is the largest privately owned Taiwanese airline.[2] Trụ sở chính của hãng toạ lạc tại Đào Viên, Đài Loan.

ve-may-bay-eva-air_1

Kể từ khi thành lập năm 1989, EVA Air đã mở rộng các hoạt động vận chuyển bao gồm: vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không, cung cấp suất ăn trên máy bay, dịch vụ mặt đất, kỹ thuật hàng không và dịch vụ du lịch trọn gói. Công ty con của hãng là EVA Air Cargo, kết nối với hệ thống vận chuyển tàu biển của Tập đoàn Evergreen trên khắp thế giới trên biển và trên mặt đất. Công ty con khu vực và nội địa của EVA Air, UNI Airways, hoạt động trên một số tuyến ngắn nội địa Đài Loan. Đối thủ cạnh tranh chính của EVA Air là hãng China Airlines.

EVA Air được công nhận là một hãng tiên phong của hạng premium economy, được hãng khởi đầu năm 1991.[2] EVA cũng là hãng hàng không Đài Loan đầu tiên được IATA trao chứng chỉ IOSA (Kiểm tra An toàn Vận hành của IATA) vì hoạt động an toàn của hãng.[3] Phát âm tên của hãng là E-V-A Air(ways). Khẩu hiệu của hãng là “Just relax, your home in the air.” (Thư giãn đi, đây là ngôi nhà của bạn ở trên không trung)

Thành lập:

1989

Các trạm trung chuyển chính:

Sân bay quốc tế Đào Viên Đài Loan

Các điểm đến quan trọng:

Sân bay Quốc tế Suvarnabhumi Bangkok
Sân bay quốc tế Cao Hùng

Chương trình hành khách thường xuyên:

Evergreen Club

Phòng khách dành cho thành viên:
Evergreen Lounge

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Emirates Airline

Emirates Airline (gọi tắt: Emirates) (tiếng Ả Rập: الإماراتal-Imārāt) là một hãng hàng không có trụ sở tại Dubai, Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất. Hãng này phục vụ các chuyến bay vận chuyển hành khách theo lịch trình với gần 550 chuyến bay mỗi tuần, phục vụ 87 thành phố và 59 quốc gia tại châu Âu, Bắc Mỹ, Trung Đông, châu Phi, Ấn Độ và châu Á Thái Bình Dương. Các hoạt động vận chuyển hàng hoá được thực hiện dưới tên Emirates SkyCargo. Đại bản doanh hãng đóng tại Sân bay quốc tế Dubai

Lịch sử

Hãng hàng không này được chính quyền Dubai thành lập vào tháng 5 năm 1985. Hãng bắt đầu các chuyến bay đi Mumbai và Delhi sau đó là Karachi vào tháng chín với một chiếc Airbus A300 và một chiếc Boeing 737-300 được thuê từ Pakistan International Airlines (PIA). Tiếp đó, hai chiếc Boeing 727-200 Advanced đã được nhận từ Đội bay hoàng gia của Các tiểu vương quốc. Những chiếc máy bay nà được sử dụng cho đến khi Emirates bắt đầu nhận một đội tàu bay mới chế tạo thân rộng Airbus A300-600R và A310-300

Điểm đến châu Âu đầu tiên được bổ sung vào tháng 7 năm 1987 là Gatwick tại London. Các tuyến đi Viễn Đông bắt đầu tháng 6 năm 1990 đến Singapore. Emirates nắm 40% cổ phần tài chính và một hợp đồng quản lý cho hãng Air Lanka ngày 1 tháng 4 năm 1998, và sau đó hãng này đã đổi tên thành Sri Lankan Airlines. Hãng Emirates là một công ty 100% vốn của chính quyền Dubai nắm giữ và đến tháng 3 năm 2007 sử sụng 18.579 nhân công

Các điểm đến

Emirates hành khách và hàng hoá các tuyến đường 2010:

Châu Phi
Cairo, Tripoli, Tunis, Casablanca, Nairobi, Eldoret (hàng hóa), Entebbe, Addis Ababa, Lilongwe (hàng hóa), Maurice, Mahe, Johannesburg, Durban, Cape Town, Lagos, Accra, Khartoum, Dakar, Abidjan, Luanda

Châu Mỹ
New York, Toledo (hàng hóa), Los Angeles, San Francisco, Houston, Toronto, Campinas (hàng hóa), Sao Paulo

Châu Á
Tokyo, Osaka, Seoul, Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Châu, Hong Kong, Đài Bắc (hàng hóa), Manila, Jakarta, Singapore, Kuala Lumpur, Bangkok, Dhaka, Colombo, Maldives, Chennai, Cochin, Delhi, Mumbai, Thiruvanathapuram, Kozhikode, Kolkata, Ahmedabad, Hyderabad, Bangalore, Karachi, Lahore, Islamabad, Peshawar, Tehran, Kabul (hàng hóa), Basra [bắt đầu ngày 02 Tháng 2], Baghdad [kế hoạch], Kuwait, Bahrain, Doha, Dammam, Riyadh, Madinah, Jeddah , Dubai, Muscat, Sanaa, Amman, Damascus, Beirut

Châu Âu

Zaragoza (hàng hóa), Madrid, Paris, Nice, Hamburg, Dusseldorf, Frankfurt, Munich, Prague, Amsterdam, Gothenburg, (hàng hóa), Istanbul, Milan, Venice, Rome, Athens, Malta, Moscow, London, Newcastle, Birmingham, Glasgow, Manchester, Zurich, Vienna

Thái Bình Dương
Perth, Brisbane, Sydney, Melbourne, Auckland, Christ Church

Thành lập:

1985

Các trạm trung chuyển chính:

Sân bay quốc tế Dubai

Chương trình hành khách thường xuyên:

Skywards

Phòng khách dành cho thành viên:

Emirates Worldwide Airport Lounges

Công ty mẹ:

The Emirates Group

Tổng hành dinh Dubai:

Các tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Delta Air Lines

Delta Air Lines, Inc. (tiếng Anh của “Hãng hàng không Delta”; NYSE: DAL) là một hãng hàng không Hoa Kỳ[1] có trụ sở ở thành phố Atlanta, Georgia. Delta cung cấp các tuyến bay quốc tế khắp thế giới: Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Âu, châu Á, châu Phi, Trung Đông và vùng Caribbean. Delta có hơn 332 điểm đến ở 57 quốc gia (chưa kể các điểm đến bay theo thỏa thuận chia chỗ) trên 5 châu lục.[2] Delta là hãng hàng không Mỹ duy nhất bay đến châu Phi.[3] Ngày 14 tháng 4 năm 2008, Northwest Airlines thông báo hãng sẽ hợp nhất với Delta để tạo thành hãng Delta Air Lines mới.[4] Nếu được chấp thuận, hãng Delta “mới” sẽ trở thành hãng hàng không lớn nhất thế giới

Thành lập:

13 tháng 9 năm 1928 (tên là Delta Air Service)

Các trạm trung chuyển chính:

Sân bay quốc tế Hartsfield-Jackson Atlanta
Sân bay quốc tế Thành phố Salt Lake
Sân bay quốc tế Cincinnati/Bắc Kentucky
Sân bay quốc tế John F. Kennedy

Các trạm trung chuyển khác:

Sân bay quốc tế Los Angeles

Các điểm đến quan trọng:

Sân bay LaGuardia
Sân bay quốc tế Orlando
Sân bay quốc tế Logan

Chương trình hành khách thường xuyên:

SkyMiles

Phòng khách dành cho thành viên:

Crown Room Club

Liên minh:

SkyTeam

Các công ty con:

Comair
Delta Shuttle
Delta AirElite

Tổng hành dinh:

Atlanta, Georgia

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không China Southern Airlines

China Southern Airlines (Công ty Hàng không Nam Phương Trung Quốc) là một hãng hàng không có trụ sở tại Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Hãng hoạt động trên các tuyến nội địa và quốc tế[1], đây là hãng hàng không lớn nhất về quy mô đội tàu bay châu Á và là hãng lớn nhất Trung Quốc về số lượng khách vận chuyển.

Trung tâm hoạt động chính của hãng tại sân bay quốc tế Bạch Vân Quảng Châu và sân bay quốc tế Thủ Đô Bắc Kinh, với các thành phố trọng điểm khác tại sân bay quốc tế Đào Tiên Thẩm Dương, sân bay quốc tế Urumqi Diwopu, sân bay quốc tế Bảo An Thâm Quyến, sân bay quốc tế Thiên Hà Vũ Hán, sân bay quốc tế Tân Trịnh Trịnh Châu và sân bay quốc tế Chu Thủy Tử Đại Liên.

China Southern Airlines đã được IATA cấp chứng chứng nhận IOSA (Kiểm tra An toàn Vận hành IATA) do đã hãng có hoạt động đảm bảo an toàn.

Thành lập:

1991

Các trạm trung chuyển chính:

Sân bay quốc tế Bạch Vân Quảng Châu

Sân bay quốc tế:

Thủ Đô Bắc Kinh

Các điểm đến quan trọng

Sân bay quốc tế Đào Tiên Thẩm Dương
Sân bay quốc tế Urumqi Diwopu
Sân bay quốc tế Bảo An Thâm Quyến
Sân bay quốc tế Thiên Hà Vũ Hán
Sân bay quốc tế Tân Trịnh Trịnh Châu
Sân bay quốc tế Chu Thủy Tử Đại Liên

Chương trình hành khách thường xuyên:

Sky Pearl Club

Liên minh:

SkyTeam (gia nhập cuối năm 2007)

Công ty mẹ:

China Southern Airlines Co., Ltd.

Tổng hành dinh

Quảng Châu, Quảng Đông, Trung Quốc

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không China Eastern Airlines

China Eastern Airlines (giản thể: 中国东方航空股份有限公司; dịch sang tiếng Việt: Công ty trách nhiệm hữu hạn Hàng không Đông Phương Trung Quốc) (SSE: 600115 SEHK: 0670 NYSE: CEA) là một hãng hàng không có trụ sở tại Thượng Hải, Trung Quốc. Đây là một hãng hàng không lớn của Trung Quốc cung cấp dịch vụ vận tải hàng không nội địa và quốc tế. Cơ sở chính của hãng này là Sân bay quốc tế Phố Đông Thượng Hải, với một trung tâm hoạt động tại Sân bay quốc tế Hồng Kiều Thượng Hải

Hiện tại hãng này không thuộc hiệp hội hãng hàng không nào cả nhưng có lẽ đang tìm cách gia nhập vào Oneworld [2]. China Eastern Airlines được IATA cấp chứng chỉ IOSA (IATA Operations Safety Audit) do hãng đã hoạt động đảm bảo an toàn

Đội tàu bay

Đến thời điểm tháng 3 năm 2007, hãng China Eastern Airlines có đội tàu bay như sau:
•    9 Airbus A300-600R
•    13 Airbus A319-100 (cộng 12 đang đặt hàng)
•    64 Airbus A320-200 (cộng 23 đang đặt hàng)
•    6 Airbus A321-200 (cộng 9 đang đặt hàng)
•    3 Airbus A330-200 (cộng 2 đang đặt hàng)
•    7 Airbus A330-300 (cộng 8 đang đặt hàng)
•    5 Airbus A340-300
•    5 Airbus A340-600
•    2 Antonov An-24B
•    5 Antonov An-24RV
•    1 BAe 146-100
•    4 BAe 146-300
•    23 Boeing 737-300
•    29 Boeing 737-700 (cộng 14 đang đặt hàng)
•    7 Boeing 737-800 (cộng 6 đang đặt hàng)
•    3 Boeing 767-300ER
•    5 Bombardier CRJ-200LR
•    5 Harbin Embraer ERJ 145 (cộng 4 đang đặt hàng)
•    3 McDonnell Douglas MD-82
•    9 McDonnell Douglas MD-90-30
•    Đang đặt hàng: 15 Boeing 787-8

Thành lập:

1988

Các trạm trung chuyển chính:

Sân bay quốc tế Hồng Kiều Thượng Hải
Sân bay quốc tế Phố Đông Thượng Hải

Các điểm đến quan trọng

Sân bay quốc tế Vu Gia Bá
Sân bay quốc tế Hàm Dương Tây An
Sân bay quốc tế Lộc Khẩu Nam Kinh
Sân bay quốc tế Thiên Hà Vũ Hán

Chương trình hành khách thường xuyên

Eastern Miles

Tổng hành dinh:

Thượng Hải, Trung Quốc

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không China Airlines

14-China Airlines1

1959
China Airlines được thành lập tại Đài Bắc.
Vốn ban đầu: TWD400, 000
Số lượng nhân viên ban đầu: 26
Hạm đội máy bay: Một máy bay C54 và hai máy bay đổ bộ PBY.

1961
Đảm nhiệm tiếp tế quân sự tại Lào.

1962
Bắt đầu các chuyến bay nội địa từ Đài Bắc đến Hoa Liên.
Đảm nhiệm tiếp tế quân sự tại Việt Nam.

1966
Khai trương dịch vụ quốc tế từ Đài Bắc đến Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh).

1967
Khai trương chuyến bay Đông Bắc Á.

1970
Mở rộng thị trường Mỹ.

1978
Đầu tư Công ty TNHH Taoyuan International Airport Services

1980
Đầu tư công ty Dynasty Holidays

1983
Mở rộng thị trường châu Âu.

1988

  • Thành lập China Aviation Development Foundation, với 27 cổ đông ban đầu.

1991

  • Áp dụng IPO và thực hiện tư nhân hoá.

1993

  • China Airlines niêm yết trên thị trường chứng khoán Đài Loan, hãng hàng không quốc tế đầu tiên trong thị trường chứng khoán Đài Loan.

1995

  • Logo “Mai hoa” được giới thiệu cùng với bản sắc doanh nghiệp mới.

1998

  • Công bố tầm nhìn mới  “Chúng tôi sẽ là hãng hàng không đáng tin cậy nhất”.

1999

  • Khai trương dịch vụ chở hàng đến Delhi và Colombo.

2000

  • Thành lập văn phòng Thượng Hải.
  • Được công nhận ISO 9001. Bắt đầu bán vé  trực tuyến.
  • Khai trương dịch vụ chở hàng đến Frankfurt, dịch vụ điều lệ hành khách đến Delhi, phục vụ hành khách đến Penang, Vancouver và Sydney.
  • Thành lập văn phòng chi nhánh mới tại Canada, Úc, New Zealand và đảo Guam.

2001

  • Khai trương dịch vụ vận chuyển hàng hóa đến Seattle và Nashville.
  • Giới thiệu đội A340-300.

2002

  • Khai trương dịch vụ vận chuyển hàng hóa đến Manchester và phục vụ hành khách đến Delhi.

2003

  • Khai trương các chuyến bay qua eo biển đầu tiên đến Thượng Hải.
  • Khai trương dịch vụ chở hàng đến Thành phố Hồ Chí Minh và Manchester. Khai trương chuyến bayđến Seoul, phục vụ hành khách đến Hà Nội và Thành phố Brisbane.
  • Hai máy bay mới A340-300 với hai cabin.
  • Chương trình ‘Dynasty Bonus Mileage’ giới thiệu thẻ thành viên cao nhất của nó, là thẻ Paragon.

2004

  • Ra mắt dịch vụ chở hàng đến Milan và Prague.
  • Nhận giải thưởng hãng hàng không tốt nhất ở sân bay Manchester.
  • Giới thiệu máy bay mới B747-400.

2005

  • Mở các chuyến bay dịp tết âm lịch giữa Bắc Kinh, Quảng Châu và Thượng Hải.
  • a mắt dịch vụ chở hàng đến Nagoya và Vienna. Phục vụ hành khách đến Chiang Mai.
  • Được xếp hạng bởi Euromoney là có quản trị doanh nghiệp tốt nhất tại Đài Loan. Nhận được giấy chứng nhận uy tín IATA IOSA về an toàn. Xếp hạng 1 ở châu Á và thứ 2 trên thế giới về dịch vụ hàng hóa toàn cầu.
  • Ra mắt máy bay đầu tiên trên thế giới với  màu sơn hoa lan hồ điệp.

2006

  • Mua cổ phiếu Yangtze River Express Airlines.
  • Nhận được IATA Ground Handling Certificate và xếp hạng 1 trong cuộc khảo sát dịch vụ hàng hóa toàn cầu. Skytrax nghiên cứu CAL trao thứ hạng cao cho dịch vụ hạng Thương.
  • Ra mắt dịch vụ chở hàng đến Osaka, Thượng Hải, Hà Nội và Stockholm, phục vụ hành khách đến Phnom Penh.
  • Ra mắt máy bay đầu tiên trên thế giới với màu sơn trái cây.
  • Công bố kế hoạch xây dựng lớn tại sân bay Taoyuan.

2007

  • Ký hợp đồng quản lý với tập đoàn Accor cho khách sạn sân bay mới.
  • Trao thứ hạng cao nhất trong dịch vụ của Skytrax cho Economy, Business và First Class.
  • Ra mắt dịch vụ di động tại sân bay ở Đài Loan.

2008

  • Ra mắt một chuyến bay nhân đạo trực tiếp đến Tứ Xuyên.
  • Khai trương chuyến bay cuối tuần đến Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Châu và Hạ Môn.
  • Ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác với China Southern Airlines. Công bố hợp tác với hãng hàng không Hải Nam về  Frequent Flyer Programs.

2009

  • Khai trương dịch vụ vận chuyển hàng hóa Đài Bắc – Osaka – Los Angeles, tuyến đường Đài Loan – Singapore mở rộng đến Surabaya.
  • Trở thành thành viên của chương trình e-Freight của IATA.
  • Khánh thành nền tảng thử nghiệm nhà máy điện ở Đài Loan trị giá 120.000 bảng Anh.
  • Đã trở thành hãng hàng không đầu tiên tại Đài Loan để có được cấp “Reasonable Assurances Certification”.

2010

  • Khánh thành tuyến đường chở khách từ Đài Bắc đến Miyazaki, Thanh Đảo và Songshan đến Hồng Kiều, Haneda, từ Kaohsiung đến Hạ Môn, chuyến bay thuê đến Tây An Narita và các dịch vụ vận chuyển hàng hóa từ Đài Bắc đến Hạ Môn, Nam Kinh, Phúc Châu và.
  • Thực hiện hàng cứu trợ khẩn cấp động đất ở Haiti.
  • Ký biên bản ghi nhớ hợp tác với China Eastern Airlines. Ký Hiệp định hợp tác chiến lược và bắt đầu hợp tác liên danh với China Southern Airlines. Bắt đầu hợp tác liên danh với Xiamen Airlines. Ký Hiệp định khung hợp tác chiến lược với thành phố Phúc Châu.
  • Khánh thành trụ sở mới của công ty CAL viên tại sân bay Taoyuan.
  • Nhận được “CG6005 Certificate of Corporate Governance” từ Taiwan Corporate Governance Association.

2011

  • Khánh thành chuyến Đài Bắc – Brisbane – Auckland, Đài Bắc – Vũ Hán, Đài Bắc – Osaka – New York.
  • Phát động hợp tác liên danh với China Eastern Airlines và Shanghai Airlines. Ký Hiệp định khung chiến lược với Tập đoàn Du lịch Chiết Giang.
  • China Airlines duy trì các liên kết không khí với Nhật Bản, Đài Loan sơ tán và cung cấp hàng cứu trợ khẩn cấp tới khu vực động đất của Nhật Bản.
  • Nhận “Reader’s Digest’Asia Trusted Brands Survey Gold Award”. Có tên trong Tenth Top-Performing Mainline Carrier của Aviation Week.
  • Ra mắt chuyến bay trực tiếp từ Taoyuan đến Vô Tích, Tam Á, Diêm Thành, Hải Khẩu, Nam Xương, Dailian và Kaohsiung đến Bắc Kinh, Trường Sa, Trùng Khánh, Kuala Lumpur, Đài Trung đến Trùng Khánh, Nam Xương.
  • China Airlines trở thành hãng hàng không Đài Loan đầu tiên gia nhập SkyTeam.

2012

  • Giới thiệu bữa ăn trong chuyến bay nấu bởi sao đầu bếp Michelin. Giới thiệu SkyPriority cho khách hàng. Tham gia SkyTeam Cargo.
  • Hiệp định hợp tác chiến lược ký kết với Chunghwa Telecom. Thỏa thuận công nghiệp học viện đã ký kết với NTUT, YunTech và NFU. Ký OnPoint nhiên liệu và Hiệp định Giải pháp Carbon với GE Aviation.
  • Nhận được chứng nhận ủy quyền điều hành kinh tế. Thắng “Super Green Judges Award and First Prize for 2012 Green Brand”. Giành giải “Reader’s Digest Asia Trusted Brand Survey Gold Award”. Nhận “Sports Activists Award from Sports Affairs Council”. Tuyên bố “Top Mindshare in Management Magazine Consumer Brand Survey”. Duy trì “Facility Received ISO 14001 Certification”.
  • Ra mắt chuyến bay Songshan đến Ôn Châu, Gimpo và Taoyuan đến Kagoshima, Shizuoka, Toyama. Mở rộng Đài Bắc-Sydney-Auckland.
  • Ra mắt dịch vụ di động mới và các dịch vụ thương mại điện tử. Ra mắt “World’s First Trans-Pacific Climate Observation Flight”. Đã trở thành hãng hàng không đầu tiên để hiển thị Carbon Footprint và Năng lượng của món ăn  trong chuyến bay.
  • Trang bị thêm cho chín máy bay B747-400.

2013

  • China Airlines, China Southern, China Eastern và Xiamen Airlines thành lập quan hệ đối tác.
  • Mở các đường bay Taoyuan-Takamatsu.
  • Thắng giải Business Next Magazine’s 2013 Green Brand Award and Super Green Judges’ Award.
  • ILFC giao hàng đầu tiên của ba máy bay Boeing 737-800.
  • Ra mắt dịch vụ liên danh với Hãng hàng không Transaero của Nga.
Xem Thêm

Hãng hàng không Cebu Pacific

Cebu Pacific là một hãng hàng không giá rẻ với đường bay phí tổn thấp được đặt cơ sở ở Pasay, Manila, Philippines. được thành lập ngày 26 tháng 8 năm 1988 bắt đầu hoạt động ngày 8 tháng 3 năm 1996, chủ yếu khai thác đường bay ở Đông Nam Á.

Điểm đến

Đông Á

* Trung Quốc
o Quảng Châu (Sân bay quốc tế Bạch Vân Quảng Châu)
o Hồng Kông (Sân bay quốc tế Hồng Kông)
o Macau (Sân bay quốc tế Macau)
o Thượng Hải (Sân bay quốc tế Phố Đông Thượng Hải)
o Hạ Môn (Sân bay quốc tế Hạ Môn Cao Khi)

* Đài Loan
o Cao Hùng (Sân bay quốc tế Cao Hùng) (từ 07.06.08)
o Đài Bắc (Sân bay quốc tế Đào Viên Đài Loan)

* Hàn Quốc
o Seoul (Sân bay quốc tế Incheon)
o Busan (Sân bay quốc tế Gimhae)

Đông Nam Á

* Indonesia
o Jakarta (Sân bay quốc tế Soekarno-Hatta)

* Malaysia
o Kota Kinabalu (Sân bay quốc tế Kota Kinabalu) (từ 18.06.08)
o Kuala Lumpur (Sân bay quốc tế Kuala Lumpur)

* Philippines
o Luzon
+ Laoag (Sân bay quốc tế Laoag)
+ Legazpi (Sân bay Legazpi)
+ Manila
# (Sân bay quốc tế Diosdado Macapagal)
# (Sân bay quốc tế Ninoy Aquino) Trụ sở chính
o Visayas
+ Bacolod (Sân bay quốc tế Bacolod-Silay)
+ Caticlan/Boracay (Sân bay Godofredo P. Ramos)
+ Cebu (Sân bay quốc tế Mactan-Cebu) Trụ sở chính
+ Dumaguete (Sân bay Sibulan)
+ Iloilo (Sân bay quốc tế Iloilo)
+ Kalibo (Sân bay Kalibo)
+ Puerto Princesa (Sân bay Puerto Princesa)
+ Roxas City (Sân bay Roxas)
+ Tacloban (Sân bay Daniel Z. Romualdez)
+ Tagbilaran (Sân bay Tagbilaran)
o Mindanao
+ Butuan (Sân bay Bancasi)
+ Cagayan de Oro (Sân bay Lumbia)
+ Cotabato City (Sân bay Awang)
+ Davao City (Sân bay quốc tế Francisco Bangoy) Điểm đến quan trọng
+ Dipolog City (Sân bay Dipolog)
+ General Santos (Sân bay quốc tế General Santos)
+ Zamboanga City (Sân bay quốc tế Zamboanga)
* Singapore
o Singapore (Sân bay quốc tế Changi Singapore)

* Thái Lan
o Bangkok (Sân bay quốc tế Suvarnabhumi)

* Việt Nam
o Hà Nội (Sân bay quốc tế Nội Bài)
o Thành phố Hồ Chí Minh (Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất)

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Cathay Pacific

Cathay Pacific, Hán-Việt: Quốc Thái Hàng Không, tiếng Anh: Cathay Pacific Airways Limited ( (chữ Hán giản thể: 国泰航空有限公司, chính thể: 國泰航空有限公司, latin hóa: Guótài Hángkōng Yŏuxiàn Gōngsī); viết tắt: 國泰/国泰) là hãng hàng khộng quốc gia của Hong Kong với tổng hành dinh và điểm trung chuyển chính tại sân bay quốc tế Hong Kong. Hãng cũng khai thác các đường bay từ Bangkok và Đài Bắc. Hãng khai thác các dịch vụ trở khách và trở hàng tới 114 điểm tại 36 nước bao gồm cả các điểm đến trong thỏa thuận chia sẻ chỗ với các đối tác hàng không. Cathay Pacific sở hữu một đội bay thân rộng gồm 126 chiếc bao gồm Airbus A330s, A340s, Boeing 747s và 777s. Hãng cũng sở hữu hãng hàng không Dragon Air khai thác các đường bay tới 29 điểm từ Hong Kong tới các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Năm 2009, Cathay Pacific và Dragon Air khai thác 56.000 chuyến bay với gần 25 triệu hành khách và hơn 1.52 tỉ kg hàng hóa và thư.

Hãng được thành lập vào ngày 24-12-1946 bởi một người Mỹ tên Roy C. Farrell và một người Australia tên là Sydney H. de Kantzow với mỗi người góp vào 1 dollar Hong Kong để đăng ký. Hãng được đặt tên là Cathay Pacific bởi “Cathay” là cái tên cổ mà người phương Tây dùng để gọi Trung Quốc và Pacific thể hiện ước mơ của Farrell là một ngày nào đó, họ có thể bay xuyên Thái Bình Dương. Cathay Pacific là hãng hàng không đầu tiên trên thế giới có đường bay qua Bắc cực vào tháng 07-1998 và đó cũng là chuyến bay đầu tiên hạ cánh xuống Sân bay quốc tế Hong Kong mới tại Chek Lap Kok. Tháng 07-2001, hãng sa thải 49 trong tổng số phi công, tạo nên một trong những vụ tranh chấp lớn nhất trong ngành hàng không thế giới. Năm 2006, hãng kỷ niệm 60 năm thành lập, cổ đông chính của hãng là Swire Pacific và Air China. Hãng cũng là một trong những cổ đông chính của Air China.

Cathay Pacific là thành viên sáng lập của liên minh hàng không Oneworld cùng với American Airlines, British Airways, Qantas và Canadian Airlines. Năm 2009, hãng được Skytrax bình trọn là hãng hàng không của năm cũng như được công nhận là hãng hàng không 5 sao.

Tình hình hiện tại

Để kỷ niệm 60 năm thành lập vào năm 2006, một chương trình roadshow với tên gọi “60 năm thành lập Cathay Pacific” được tổ chức, công chúng đều có thể theo dõi sự phát triển trong 60 năm của hãng cũng như tham gia các trò chơi, giao lưu với các nhân viên của hãng cũng như xem các đồng phục tiêu biểu của hãng. Cathay Pacific cũng bán các vật lưu niệm cũng như các suất ăn trên máy bay của hãng do các nhà hàng nổi tiếng ở Hong Kong nấu.[22]

Tháng 06-2008, Cathay Pacific tham gia vào một cuộc thương lượng với Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ sau các cuộc điều tra về chống độc quyền về giá trong vận tải hàng không mà kết quả của nó là hãng bị phạt 60 triệu USD. Sau đó, hãng đã thành lập một văn phòng cạnh tranh nội bộ nhằm khẳng định rằng hãng đã chấp hành luật cạnh tranh và chống độc quyền. Và việc Cathay Pacific bị điều tra ở Mỹ không phù hợp với Luật cạnh tranh của Hong Kong.[23][24]

Tháng 03-2009, báo cáo của hãng cho thấy trong năm 2008, hãng đã lỗ 8.56 tỉ dollar Hong Kong, đây là lần đầu tiên hãng bị lỗ từ cuộc khủng hoảng châu Á năm 1997. Báo cáo cho thấy 7.6 tỉ HK$ trong số đó là do năng lượng và 468 triệu HK$ là số tiền phải trả cho khoản phạt tại Mỹ. Sụ khan hiếm năng lượng chính là nguyên nhân làm cho giá của chúng tăng lên rất nhiều, do đó vào cuối năm 2008, Cathay Pacific đã dự trữ sẵn một nửa số nhiên liệu mà hãng sẽ cần cho tới năm 2011. Hãng đã dự đoán, nếu giá năng lượng dừng lại ở mức 75USD một thùng thì hãng sẽ không bị lỗ

Thương hiệu

Cathay Pacific đã tập trung xây dựng thương hiệu cũng như quảng cáo mạnh tới khách hàng cũng như các nhân viên của hãng. Chiến dịch đầu tiên hướng tới khách hàng có tên gọi “Những điều nhỏ làm chuyển động bạn” (It’s the little things that move you). “Những điều nhỏ” ở đây là sự thỏa mãn khách hàng của Cathay Pacific. Chiến dịch quảng cáo mới nhất của hãng có tên gọi “Great Service. Great People. Great Fares.”[26] Một chương trình khác với tên gọi”Meet the Team”, cũng được hãng triển khai, trong đó các nhân viên của hãng chia sẻ về công việc của mình tại Cathay Pacific

Điểm đến

Cathay Pacific có đường bay tới 118 điểm đến tại 36 quốc gia và vùng lãnh thổ trên cả 5 châu lục. Hãng có đường bay tới những cửa ngõ chính tại Bắc Mỹ và châu Âu cùng với các chuyến bay chuyển tiếp của các thành viên khác trong liên minh Oneworld cũng như của các đối tác hàng không như American Airlines và British Airways quá cảnh tại Los Angeles và London. Ngoài ra, hãng còn có 10 điểm đến tại Pháp thông qua thỏa thuận chia sẻ chỗ với Air France. Hãng cũng phục vụ 17 điểm đến tại Trung Quốc thông qua công ty con là Dragon Air.

Ngày 26-03-2007, Cathay Pacific đã tạm ngừng khai thác các chuyến bay tới Colombo bởi các lý do liên quan tới an ninh khiến sân bay quốc tế Bandaranaike phải đóng cửa. Ngày 28-03-2008 hãng đã nối lại đường bay từ Hong Kong tới Colombo quá cảnh tại Bangkok và Singapore.[28][29] Năm 2008, hãng đã nâng tần suất bay trên các tuyến bay tới Auckland, Brisbane, Chennai, Delhi, Dubai, Mumbai, Perth, Singapore và Sydney, cũng như giảm tần suất các chuyến bay tới Toronto và Vancouver.[30] Năm 2009 hãng cũng tăng tần suất trên các chuyến bay tới Jakarta và Thượng Hải, các chuyến bay tới Paris cũng được tăng tần suất vào khoảng thời gian từ 29-03-2009 tới 31-08-2009 và từ 18-12-2009 tới 06-01-2010. Ngoài ra, từ 25-10-2009, Cathay Pacific cũng bắt đầu khai thác dịch vụ tới Jeddah, điểm đến thứ 2 tại Ả Rập Saudi và các chuyến bay tới Brisbane và San Francisco bị giảm trong khoảng từ 25-09 tới 17-11-2009. Cuối năm 2009, dịch vụ tới [{Toronto]] và Vancouver cũng được tăng lên với tần suất 2 chuyến môt ngày

Hình ảnh bên ngoài

Bề ngoài của tất cả các máy bay của Cathay Pacific đều bao gồm: logo “brushwing của hãng trên đuôi, thân và sườn máy bay, dòng chữ “Asia’s world city”, logo của Brand Hong Kong cùng với biểu tượng hình con rồng, logo của Oneworld và của công ty mẹ Swire Group.[33][34][35]

Đặc biệt

Năm 1997, một chiếc Boeing 747-200 (B-HIB) được đặt tên là “Linh hồn của Hong Kong”, được sơn đặc biệt với một ký tự “家” (có nghĩa là nhà), cùng với dòng chữ bằng tiếng Hoa “繁榮進步 更創新高” bên trái và dòng chữ bằng tiếng Anh “Linh hồn của Hong Kong 97” bên phải, nhằm kỷ niệm sự kiện Hong Kong được trả về Trung Quốc].[36]

Ngày 05-07-2002, một chiếc Boeing 747 được đặt tên là “Thành phố châu Á của thề giới” và được sơn dòng chữ này bên ngoài nhằm quảng bá Hong Kong trên toàn cầu.[37]

Ngày 01-09-2006, Cathay Pacific kỷ niệm chiếc máy bay thứ 100, là một chiếc Airbus A330-300 được đặt tên là “Bước tiến của Hong Kong” được sơn trên thành máy bay.[38]

Tháng 01-2008, một chiếc Boeing 777-300ER (B-KPF) mới được sơn dòng chữ “Thành phố châu Á của thế giới”.[39]

Hiện tại, Cathay Pacific có 3 chiếc máy bay được sơn theo hình ảnh của Oneworld nhằm kỷ niệm 10 năm thành lập liên minh, gồm 1 chiếc Airbus A340-300 , 1 chiếc Airbus A330-300 và 1 chiếc Boeing 777-300ER (B-KPL

Một vài điểm đáng chú ý

Ngày 21-05-1998, Cathay Pacific trở thành hãng hàng không đầu tiên nhận được và khai thác máy bay Boeing 777-300, thành viên mới nhất của dòng Boeing 777 tại một buổi lễ kỷ niệm ởEverett.[44]

Ngày 28-11-2002, hãng nhận được máy bay Airbus A340-600 đầu tiên trong một buổi lễ tại nhà máy của Airbus ở Toulouse. Cathay Pacific là khách hàng châu Á đầu tiên sử dụng loại máy bay này. Đây là chiếc đầu tiên trong hợp đồng thuê 3 chiếc từ International Lease Finance Corporation (ILFC) của hãng.[45]

Ngày 01-12-2005, Cathay Pacific công bố một đơn đặt hàng 16 máy bay Boeing 777-300ER, 4 chiếc trong số này được thuê lại từ ILFC và sẽ được giao trong khoảng từ tháng 09-2007 tới tháng 07-2010, ngoài ra hãng cũng xem xét khả năng mua thêm 20 chiếc loại này, 2 trong số đó được đặt hàng vào ngày 01-06-2006. Cùng ngày, hãng cũng đã đặt hàng thêm 3 chiếc A330-300, các máy bay này sẽ được giao vào năm 2008.[46][47][48]

Ngày 29-08-2006, Cathay Pacific nhận vể chiếc máy bay thứ 100 là một máy bay Airbus A330-300 với số hiệu đăng ký là B-LAD. Để kỷ niệm sự kiện này, hãng đã cho dán một biểu tượng kỷ niệm 60 năm tại các cửa sau máy bay(2 bên phải và 2 bên trái). Chiếc máy bay này được đặt tên là “Progress Hong Kong”, một cái tên được chọn trong một cuộc thi dành cho nhân viên cùa hãng.

Ngày 07-08-2007, Cathay Pacific đặt hàng thêm 5 chiếc Boeing 777-300ER trị giá 1.4 tỉ đô la Mỹ, nâng tổng số máy bay loại này của hãng lên 23 chiếc.[50] Ngày 30-10-2007, Tony Tyler,CEO của hãng, công bố rằng Cathay Pacific không có một kế hoạch nào cho việc đặt mua máy bay Boeing 787 hoặc Airbus A380 vào lúc này.[51] On 8 tháng 11 năm 2007, the airline announced that it had placed an order for seven additional Boeing 777-300ERs and 10 747-8F freighters with a list price of US$5.2 billion.[52] Cùng thời điểm đó, hãng cũng đặt hàng 14 máy bay trở hàng mới. Đơn đặt hàng này đã làm cho Cathay Pacific trở thành hãng hàng không có đội bay 777-300ERs lớn nhất châu Á cũng như có đội bay 747-8Fs lớn nhất thế giới.[53] Ngày 6-12-2007, hãng đặt hàng thêm 8 chiếc Airbus A330-300 trị giá khoảng 1.7 tỉ USD. Cùng với thỏa thuận mua 17 chiếc máy bay trở khách và trở hàng tầm xa trước đó 1 tuần, Cathay Pacific sẽ có một đội bay gồm 200 chiếc vào năm 2012. Trong số đó, Cathay Pacific khai thác 155 chiếc, 45 chiếc còn lại sẽ do các công ty con khai thác.

Ngày 11-03-2009, hãng công bố rằng việc giao 2 máy bay vào năm 2008 sẽ bị trì hoãn sau cuộc đình công của nhân viên hãng Boeing. Ngoài ra, việc giao hai chiếc 747-8 trở hàng cũng sẽ bị trì hoãn tới năm 2010

Các giải thưởng

Cathay Pacific đã được điều tra của Skytrax cho kết quả là Hãng hàng không toàn bộ tốt nhất thế giới trong năm 2003 và 2005. Hãng này cũng được bình chọn giải Hạng nhất tốt nhất, Sản hạng nhất tốt nhất (Hồng Kông) và Sảnh hạng thương gia tốt nhất bởi Skytrax. Source Hãng được bầu chọn Hãng hàng không của năm 2006 Bởi Air Transport World (ATW). Source

Hãng cũng được bình chọn Hãng hàng không của năm 2006 by OAG

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Austrian Airlines

Austrian Airlines là hãng hàng không quốc gia của Áo có tổng hành dinh tại sân bay quốc tế Wien, tại Schwechatt, Wien và là một công ty con của Lufthansa. Cùng với các công ty con là Tyrolean Airways (Austrian Arrows) và hãng bay thuê Lauda Air, Austrian Airlines khai thác các đường bay tới 130 điểm trên thế giới. Trạm trung chuyển chính của hãng là sân bay quốc tế Wien, điểm đến quan trọng là sân bay Innsbruck.Hãng là một thành viên của liên minh hàng không Star Alliance.

Lịch sử

Hãng được thành lập vào ngày 30-09-1957 và thực hiện chuyến bay đầu tiên vào ngày 31-03-1958 khi một chiếc Vickers Viscount 779 cất cánh từ Viên đi London và ghé qua Zurich. Austrian Airlines ra đời sau khi Air Austria sát nhập với Austrian Airways. Hãng bắt đầu phục vụ các đường bay quốc nội từ ngày 01-05-1963. Chuyến bay vượt Đại Tây dương đầu tiên của hãng được thực hiện vào ngày 01-04-1969 từ Viên đi New York ghé qua Brussels.

Năm 2000, hãng trở thành thành viên của liên minh hàng không Star Alliance. Cùng năm đó, hãng sở hữu Lauda Air, một hãng hàng không chuyên thực hiện các đường bay quốc tế tầm xa. Ngày 15-02-2001, hãng sở hữu tiếp Rheintalflug.

Tháng 11-2008, Austrian Airlines và Lufthansa công bố rằng Lufthansa muốn sở hữu cổ phiếu của ÖIAG và 2% mà Austrian Airlines đang sở hữu, và kết quả của thương vụ này là Lufthansa trở thành cổ đông chính của Austrian Airlines. Cùng với sự phê chuẩn của ủy ban thương mại châu Âu, Lufthansa đã mua lại Austrian Airlines vào tháng 09-2003

Nhận diện thương hiệu

Gam màu chính của Austrian Airlines luôn luôn là đỏ-trắng-đỏ theo màu quốc kỳ Áo. Các máy bay khoảng giữa thập niên 50 và 80 được sơn màu bạc ở phần thân sau, phần thân trước màu trắng với hình mũi tên của Austrian Airlines và dòng chữ Austrian Airlines màu đỏ. Tuy nhiên trong khoảng từ 1972-1995 và từ năm 2005 trở đi, chỉ còn chữ Austrian.

Hình mũi tên của Austrian Airlines (Austrian Chevron) có tất cả ba phiên bản. Năm 1960, nó giống như hình dạng của một chiếc máy bay giấy. Phiên bản hiện tại được đưa ra vào năm 1972.

Điểm đến

Hãng có mạng lưới đường bay chủ yếu ở Đông Âu và Trung Đông, phần lớn các chuyến bay này được thực hiện bởi Tyrolean.

Năm 2006, nhằm tiết kiệm 51 triệu đô la Mỹ một năm, hãng đã cho ngừng hoạt động một số máy bay Airbus A330 và Airbus A340 gồm bốn chiếc A330-200, hai chiếc A340-200 và hai chiếc Airbus A340-300. Một số trong số này được bán cho TAP Portugal, Swiss và không quân Pháp. Hậu quả của việc này là số lượng đường bay tầm xa của hãng giảm đi đáng kể. Austrian Airlines đã dừng các đường bay tới Australia và Đông Á. Đường bay tới Thượng Hải kết thúc vào tháng 01-2007 và tháng 04 và 05 cùng năm, hãng cũng dừng các đường bay tới Phuket, Mauritius, Colombo, Malé và Kathmandu.

Tháng 03-2007 hãng cũng kết thúc hai đường bay dài nhất của mình trong chặng Kangaroo Route là Wien-Singapore-Melbourne và Wien-Kuala Lumpur-Sydney

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Asiana Airlines

Asiana Airlines là một trong hai hãng hàng không lớn của Hàn Quốc. Hãng này nhỏ hơn và trẻ hơn hãng Korean Air. Hãng này có trụ sở và trung tâm tại Sân bay Quốc tế Incheon và trung tâm nội địa tại Sân bay quốc tế Gimpo.

Lịch sử

Hãng được thành lập ngày 17/2/1988 và bắt đầu hoạt động tháng 12/1988 với các chuyến bay đi Busan. Hãng này được thành lập bởi KumhoAsiana Group (trước đây là Kumho Group) như một phần của chính sách của chính phủ tạo hãng hàng không quốc gia thứ hai. Chính phủ Hàn Quốc đã chấp thuận cho sở hữu nước ngoài trong hãng này từ 20% lên 50%. Hiện nay, hãng này có 30,53 sở hữu của các nhà đầu tư tư nhân, Kumho Industrial (29.51%), Kumho Petrochemical (15.05%), các nhà đầu tư nước ngoài (11.9%), Korea Development Bank (7.18%), khác (5.83%) và sử dụng 6.411 nhân công (tháng Giêng năm 2005).

Điểm đến

Châu Á
Trung Á

Kazakhstan
Almaty (Sân bay quốc tế Almaty)
Uzbekistan
Tashkent (Sân bay quốc tế Tashkent)

Đông Á
Trung Quốc
Bắc Kinh (Sân bay quốc tế Thủ Đô Bắc Kinh)
Trường Xuân (Sân bay quốc tế Changchun Longjia)
Trường Sa, Hồ Nam (Sân bay quốc tế Changsha Huanghua)
Thành Đô (Sân bay quốc tế Song Lưu Thành Đô)
Trùng Khánh (Sân bay quốc tế Trùng Khánh Jiangbei)
Đại Liên (Sân bay quốc tế Chu Thủy Tử Đại Liên)
Quảng Châu (Sân bay quốc tế Bạch Vân Quảng Châu)
Quế Lâm (Sân bay quốc tế Lưỡng Giang Quế Lâm)
Hải Khẩu (Sân bay quốc tế Mỹ Lan Hải Khẩu)
Hàng Châu (Sân bay quốc tế Tiêu Sơn Hàng Châu)
Cáp Nhĩ Tân (Sân bay quốc tế Thái Bình Cáp Nhĩ Tân)
Hồng Kông (Sân bay quốc tế Hong Kong)
Hắc Long Giang (Sân bay Hải Lãng Mẫu Đơn Giang)
Nam Ninh (Sân bay quốc tế Nanjing Lukou)
Thanh Đảo (Sân bay quốc tế Qingdao Liuting)
Thượng Hải
(Sân bay quốc tế Hồng Kiều Thượng Hải)
(Sân bay quốc tế Phố Đông Thượng Hải)
Thẩm Dương (Sân bay quốc tế Shenyang Taoxian)
Thâm Quyến (Sân bay quốc tế Bảo An Thâm Quyến)
Thiên Tân (Sân bay quốc tế Tân Hải Thiên Tân)
Uy Hải (Sân bay Uy Hải)
Tây An (Sân bay quốc tế Hàm Dương Tây An)
Diên Cát (Sân bay quốc tế Yanji)
Yên Đài (Sân bay quốc tế Yantai Laishan)
Đài Loan
Đài Bắc (Sân bay quốc tế Đào Viên Đài Loan)
Nhật Bản
Asahikawa (Sân bay Asahikawa)
Fukuoka (Sân bay Fukuoka)
Fukushima (Sân bay Fukushima)
Hiroshima (Sân bay Hiroshima)
Kumamoto (Sân bay Kumamoto)
Matsuyama (Sân bay Matsuyama)
Miyazaki (Sân bay Miyazaki)
Nagoya (Sân bay quốc tế Chubu)
Okinawa (Sân bay Naha)
Osaka (Sân bay quốc tế Kansai)
Sendai (Sân bay Sendai)
Takamatsu (Sân bay Takamatsu)
Tokyo
(Sân bay quốc tế Tokyo) (Haneda)
(Sân bay quốc tế Narita)
Toyama (Sân bay Toyama)
Yonago (Sân bay Miho-Yonago)
Hàn Quốc
Busan (Sân bay quốc tế Gimhae) Điểm đến quan trọng
Cheongju (Sân bay Cheongju)
Daegu (Sân bay Daegu)
Gwangju (Sân bay Gwangju)
Jeju (Sân bay quốc tế Jeju) Điểm đến quan trọng
Jinju (Sân bay quốc tế Sacheon)
Muan (Sân bay quốc tế Muan)
Pohang (Sân bay Pohang)
Seoul
(Sân bay quốc tế Gimpo) Trạm trung chuyển chính (nội địa)
(Sân bay quốc tế Incheon) Trạm trung chuyển chính (quốc tế)
Ulsan (Sân bay Ulsan)
Yeosu (Sân bay Yeosu)

Bắc Á
Nga
Khabarovsk (Sân bay quốc tế Khabarovsk Novy)
Yuzhno-Sakhalinsk (Sân bay quốc tế Yuzhno-Sakhalinsk)

Nam Á
Ấn Độ
Delhi (Sân bay quốc tế Indira Gandhi)

Đông Nam Á
Campuchia
Phnom Penh (Sân bay quốc tế Phnom Penh)
Siem Reap (Sân bay quốc tế Angkor)
Malaysia
Kota Kinabalu (Sân bay quốc tế Kota Kinabalu)
Penang (Sân bay quốc tế Penang) Hàng hóa
Philippines
Cebu (Sân bay quốc tế Mactan-Cebu)
Manila
(Sân bay quốc tế Diosdado Macapagal)
(Sân bay quốc tế Ninoy Aquino)
Singapore
Singapore (Sân bay quốc tế Changi Singapore)
Thái Lan
Bangkok (Sân bay quốc tế Suvarnabhumi)
Việt Nam
Đà Nẵng (Sân bay quốc tế Đà Nẵng) (từ 02.07.08) [1]
Hà Nội (Sân bay quốc tế Nội Bài)
Thành phố Hồ Chí Minh (Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất)

Châu Âu
Áo
Vienna (Sân bay quốc tế Vienna) Hàng hóa
Bỉ
Brussels (Sân bay quốc tế Brussels) Hàng hóa
Pháp
Paris (Sân bay quốc tế Charles de Gaulle)
Đức
Frankfurt (Sân bay quốc tế Frankfurt)
Hà Lan
Amsterdam (Sân bay quốc tế Schiphol) Hàng hóa
Thổ Nhĩ Kỳ
Istanbul (Sân bay quốc tế Atatürk) (khôi phục vào năm 2009)
Anh
London
(Sân bay London Heathrow)
(Sân bay quốc tế London Stansted) Hàng hóa

Bắc Mỹ
Canada
Calgary (Sân bay quốc tế Calgary) Hàng hóa
Mỹ
Anchorage (Sân bay quốc tế Ted Stevens) Hàng hóa
Boston (Sân bay quốc tế Logan) Hàng hóa
Chicago (Sân bay quốc tế O’Hare)
Los Angeles (Sân bay quốc tế Los Angeles)
New York (Sân bay quốc tế John F. Kennedy)
San Francisco (Sân bay quốc tế San Francisco)
Seattle (Sân bay quốc tế Seattle-Tacoma)

Châu Đại Dương
Úc
Sydney (Sân bay quốc tế Kingsford Smith)
Quần đảo Bắc Mariana (Mỹ)
Saipan (Sân bay quốc tế Saipan)

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không American Airlines

American Airlines (AA) là hãng hàng không lớn nhất thế giới về lượng khách-dặm vận chuyển và quy mô đội tàu bay, và lớn thứ hai thế giới (sau Air France-KLM) về doanh số hoạt động. Là một hãng sở hữu 100% thuộc AMR Corporation, hãng AA có trụ sở ở Fort Worth, Texas, gần Sân bay Quốc tế Dallas-Forth Worth. American Airlines có các chuyến bay theo lịch trình khắp Hoa Kỳ cũng như Canada, châu Mỹ Latin, vùng Caribbean, Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, và Ấn Độ. Chủ tịch hội đồng quản trị, Tổng giám đốc của hãng là Gerard Arpey. Năm 2005, hãng đã vận chuyển 138 tỷ [[doanh thu hành khách dặm.

Từ tháng Giêng năm 2007, American Airlines phục vụ 157 thành phố với một đội bay 672 chiếc. Hãng này chuyên chở nhiều hành khách giữa Hoa Kỳ và Mỹ Latin (12,1 triệu năm 2004) hơn bất kỳ hãng hàng không nào khác. Hãng này có 5 trung tâm hoạt động chính là: Dallas/Fort Worth (DFW), Miami (MIA), San Juan (SJU), Chicago (ORD), và Saint Louis (STL). Dallas/Fort Worth là trung tâm lớn nhất của hãng, với tỷ lệ AA chiếm 84% số chuyến bay tại sân bay này và đến nhiều điểm khác hơn các trung tâm khác của hãng. Sân bay Quốc tế Los Angeles (LAX) và New York City (JFK) là các focus cities và các cửa ngõ quốc tế. Hãng này có cơ sở bảo dưỡng ở Tulsa (TUL), Kansas City (MCI), và Fort Worth Alliance (AFW).

American Eagle Airlines là một Fort Worth, đối tác hàng không ở khu vực Texas của American Airlines, sở hữu bởi AMR Corporation.

American Airlines là một sáng lập viên của liên minh hãng hàng không Oneworld.

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không All Nippon Airways

Công ty cổ phần All Nippon Airways (Nhật: 全日本空輸株式会社, Zen-nippon Kūyu Kabushiki-kaisha?, TYO: 9202, LSE:ANA), cũng có tên tiếng Nhật Zennikkū (Nhật: 全日空, Zennikkū?) (Toàn Nhật Hàng không), viết tắt ANA, là một hãng hàng không có trụ sở ở Tokyo, Nhật Bản. Đây là hãng hàng không quốc tế và nội địa lớn thứ hai của Nhật Bản sau hãng Japan Airlines và là hãng hàng không chính thức của Universal Studios Japan. Hãng có 49 điểm đến ở Nhật Bản và 22 tuyến quốc tế. ANA sử dụng 22.170 người vào tháng 3 nằm 2007.

Trung tâm hoạt động chính của của ANA tập trung tại Sân bay quốc tế Narita nằm ngoài Tokyo và Cảng hàng không quốc tế Kansai ở Osaka. Trung tâm nội địa chính của hãng tại Sân bay quốc tế Tokyo, Sân bay quốc tế Osaka, Sân bay quốc tế Chubu (gần Nagoya), và Sân bay Chitose Mới (gần Sapporo).

Cùng với các hoạt động chính của hãng, ANA còn kiểm soát nhiều hãng nhỏ hơn khác:

Air Nippon, hãng hàng không khu vực của ANA
Air Japan, cung cấp các chuyến thuê bao cho ANA
Air Next, một hãng hàng không giá rẻ có căn cứ tại Sân bay Fukuoka
Air Central, hãng hàng không có trụ sở Q400-based hoạt động chính tại Sân bay quốc tế Chubu Centrair

Các trạm trung chuyển chính:

Sân bay quốc tế Narita
Sân bay quốc tế Tokyo
Cảng hàng không quốc tế Kansai
Sân bay quốc tế Osaka

Các điểm đến quan trọng:

Sân bay quốc tế Chubu Centrair
Sân bay Chitose Mới

Chương trình hành khách thường xuyên:

ANA Mileage Club

Phòng khách dành cho thành viên:

Club ANA Lounge

Liên minh Star Alliance

Công ty mẹ:

All Nippon Airways Co., Ltd.

Tổng hành dinh:

Tokyo, Nhật Bản

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không British Airways

British Airways plc hay BA (LSE:BAY) là hãng hàng không quốc gia của Vương quốc Anh, tổng hành dinh của BA được đặt tại Waterside, gần với điểm trung truyển chính là sân bay London Heathrow. Xét theo quy mô đội bay, tồng số chuyến bay cũng như tổng số chuyến bay quốc tế thì BA là hãng hàng không lớn nhất Vương quốc Anh. Điểm trung truyển thứ hai của hãng là sân bay London Gatwick. British Airways đã ký một thỏa thuận với hãng hàng không Tây Ban Nha Iberia trong việc tạo ra liên minh hàng không lớn thứ hai châu Âu, sau Air France-KLM. British Airways chỉ có các chuyến bay quốc tế từ sân bay London Heathrow, sân bay London City và sân bay London Gatwick. Điều này có nghĩa là hành khách của BA bắt buộc phải quá cảnh tại một trong ba sân bay trên nếu muốn thực hiện các chuyến bay quốc tế.[1] [[ British Airways Group]] được thành lập vào ngày 01-09-1974 sau cuộc quốc hữu hóa của chính phủ. BA được thành lập từ hai hãng hàng không có trụ sở tại London là British Overseas Airways Corporation (BOAC) và British European Airways (BEA và hai hãng hàng không nhỏ hơn là Cambrian Airways ở Cardiff và Northease Airlines ở Newcastle upon Tyne. Cả bốn hãng này đều bị giải tán vào ngày 31-03-1974 để tạo nên British Airways và khoảng 13 năm sau đó, tháng 02-1987 hãng được tư nhân hoá. Hãng nhanh chóng bành trướng với việc nắm được British Caledonian vào năm 1988 và Dai-Air năm 1992. Ngoài việc là khách hàng lớn của Boeing, hãng cũng đặt hàng một số lượng lớn máy bay Airbus vào năm 1998 với đơn đặt hàng gồm 89 chiếc thuộc dòng Airbus A320. Năm 2007, hãng đặt hàng thêm máy bay Airbus A380 và Boeing 787. Phương tiện vận chuyển chính trên các chuyến bay đường dài của BA là máy bay Boeing 747-400, và với một đội bay gồm 49 chiếc Boeing 747-400, BA trở thành hãng hàng không có đội bay Boeing 747 lớn nhất thế giới.

Cho tới trước năm 2008, British Airways luôn là hãng hàng không lớn nhất Vương quốc Anh về số lượng hành khách. Tuy nhiên năm 2008, hãng hàng không giá rẻ EasyJet vận chuyển được 44.5triệu hành khách[2] trong khi BA chỉ có 35.7 triệu [3] và tụt xuống vị trí thứ hai.[4]. Ngày 31-03-2009 hãng kỷ niệm 35 năm ngày thành lập. Ngày 12-11-2009, hãng công bố rằng đã đạt được thỏa thuận về việc sát nhập với Iberia [5] Sự kết hợp này sẽ tạo ra hãng hàng không lớn thứ 3 trên thế giới sau Delta Airlines và Air France-KLM.[6] Vêệc sát nhập này đã được xác nhận vào ngày 08-04-2010 và sẽ hoàn thành vào cuối năm nay

Lịch sử hình thành

British Airways (BA) được thành lập năm 1972 khi ban quản lý của British Overseas Airways Corporation (BOAC) và British European Airways Corporation (BEA) sát nhập dưới tên gọi British Airways Board. Kết quả của việc này là British Airways trở thành hãng hàng không quốc gia của Vương quốc Anh, với lợi thế là không có đối thủ, công ty mới bắt đầu khẳng địng vị trí của mình. BA là một trong hai hãng hàng không duy nhất khai thác các đường bay bằng máy bay Concorde [10] với chuyến bay trở khách đấu tiên vào tháng 01-1976[11][12] Chuyến bay thương mại cuối cùng của Concorde là chuyến bay từ New York đến London ngày 24-10-2003

Sir John King, được chỉ định làm chủ tịch vào năm 1981 với mục tiêu chuẩn bị cho việc tư nhân hoá British Airways. King đã tạo nên một sự thay đổi kỳ diệu, từ một hãng hàng không thua lỗ nặng trở thành một trong những hãng hàng không có lợi nhuận cao nhất trên thế giới, trong khi rất nhiều các hãng hàng không lớn khác gặp rất nhiều khó khăn[14]. Hãng hàng không quốc gia được tư nhân hoá và được niêm yết trên thị trường chứng khoán London vào tháng 02-1987 bởi Đảng bảo thủ Anh

Trong suốt thập niên 90, BA trở thành hãng hàng không có lợi nhuận cao nhất trên thế giới với khẩu hiệu “Hãng hàng không được thế giới ưa chuộng” (The World’s favorite Airlines). Năm 1993, BA thành lập British Asia Airways, một hãng hàng không con có trụ sở ở Đài Loan, chuyên khai thác các chuyến bay giữa London và Đài Bắc. BA cũng mua lại 25% cổ phần của hãng hàng không Australia Qantas

Lord King thôi giữ chức chủ tịch vào năm 1993 và sau đó được thay bằng Colin Marshall, và Robert Ayling giữ chức vụ CEO, và đã tiết kiệm được 750 triệu bảng Anh trong quá trình quản lý của mình cũng như thành lập Go vào năm 1998. Tuy nhiên, 1 năm sau đó British Airways công bố rằng lợi nhuận của hãng đã bị giảm 84% và hãng đang ở trong tình trạng xấu nhất kể từ khi tư nhân hoá. Tháng 03-2000, Robert Ayling bị xa thải và Rod Eddington được chọn làm người thay thế. Eddington đưa ra một kế hoạch cắt giảm nhân lực sau sự kiện 11-09 Ngày 08-09-2004, British Airways công bố bán 18.5% cổ phần của hãng trong Qantas.

Tháng 09-2005,Willie Walsh, trước đây là chủ tịch của Aer Lingus, trở thành CEO mới của British Airways. Tháng 01-2008, BA công bố công ty con của hãng Openskies sẽ dựa vào quyền tự do vận chuyển qua Đại tây dương để thực hiện các chuyến bay từ các thành phố chính của châu Âu tới Mỹ. Ngày 30-07-2008, British Airways và Iberia Airlines công bố kế hoạch sát nhập. Cả hai hãng hàng không vẫn sẽ hoạt động dưới thương hiệu riêng của mình, giống như Air France và KLM. Ngày 08-04-2010, hãng công bố rằng quá trình sát nhập vẫn đang được tiến hành và sẽ hoàn thành vào cuối năm[30] Tổng hành dinh của hãng hàng không mới sẽ được đặt tại London

Trụ sở

Trụ sở của British Airways tên là Waterside được đặt ở Harmondsworth, London Borough of Hillingdon, Anh. Waterside được hoành thành vào tháng 06-1998. Trụ sở trước đây của British Airways được đặt tại Speedbird House, trong sân bay London Heathrow, nó cũng thường được gọi là Birdseed House

Điểm đến của British Airways

British Airways có đường bay đến 150 điểm, bao gồm 6 điểm trong nước. BA là một trong số 9 hãng hàng không có đường bay cố định đến cả 6 châu lục (8 hãng còn lại bao gồm Delta Air Lines, Emirates Airline, Korean Air, Malaysia Airlines, Qantas, Qatar Airways, South African Airways và United Airlines).

Nội địa Anh
Ghế hành khách của các đường bay trong nội địa Anh rộng 31 và chỉ có 1 hạng ghế. Suất ăn được phục vụ tùy theo chặng bay cũng như thời gian trong ngày. Trên tất cả các đường bay trong nội địa Anh, hành khách được phục vụ bữa ăn sáng trước 10h và sau 10h chỉ được phục vụ đồ uống và đồ ăn nhẹ. Trên các chuyến bay giữa Scottland và London Heathrow, bữa ăn cũng được phục vụ vào buổi tối[75] Hạng thương gia trong các chuyến bay nội địa Anh cũng được phục vụ như vậy, tuy nhiên hành khách có thể đổi hoặc trả vé miễn phí, cũng như được sử dụng phòng chờ hạng thương gia

Châu Âu
HạngEuro Traveller có ghế ngồi rộng 31″ ngoại trừ trên máy bay Boeing 757 là 32″ và 30″ trên máy bay Airbus 321. Suất ăn được phục vụ tùy theo chặng bay và được chia theo các Band (VD: Band 1 là Paris, band 3 là Rome và band 4 là Athens). Các chương trình giải trí được phục vụ cho các chuyến bay từ band 4 trên máy bay Boeing 767-300

HạngClub Europe là dịch vụ hạng thương gia trên các chuyến bay ngắn trong nội địa châu Âu. Hành khách được sử dụng phòng chờ hạng thương gia tại các sân bay[77] cũng như được phục vụ suất ăn hoặc trà vào buổi chiều[78]. Trên hầu hết các máy bay, ghế ngồi của hạng Club Europe rộng 31″ ngoại trừ máy bay Boeing 757, ghế ngồi của hạng này rộng 36-37″.

Quốc tế
First là dịch vụ hạng nhất trên các chuyến bay đường dài, được phục vụ trên máy bay Boeing 747 và Boeing 777. Có tất cả 14 khoang cá nhân trên mỗi máy bay, mỗi khoang có giường nằm rộng 6ft6 (1.98m), một màn hình cá nhân rộng 15 inch cho việc giải trí cũng như ổ cắm điện dành cho laptop và điện thoại di động. Quầy check-in dành riêng cho khách hạng nhất được phục vụ ở một số sân bay.

Club World là dịch vụ hạng thương gia trên các chuyến bay đường dài của BA. Hành khách được sử dụng phòng chờ dành cho hạng thương gia tại hầu hết các sân bay cũng như sử dụng phòng đón tiếp tại nhà ga số 5, sân bay London Hathrow[80][81]. Ngày 13-11-2006, British Airways giới thiệu dịch vụ hạng thương gia mới, cung cấp ghế ngồi rộng hơn cũng như các dịch vụ tốt hơn. Ghế ngồi rộng 20 inch và dài 6ft6 và có thể chuyển thành giường nằm. Với 24 chỗ trên máy bay Boeing 767-300ER, 40 tới 48 chỗ trên máy bay 777 và kể từ năm 2007, 52 tới 70 chỗ trên máy bay 747-400. Club World được đưa ra vào ngày 05-01-1998 cùng với Club Europe.

World Traveller và World Traveller Plus là hai dịch vụ hạng phổ thông trên các chuyến bay quốc tế đường dài của British Airways. Ghế ngồi của hạng World Traveller rộng 31″ và hạng World Traveller Plus là 38″.

Thiết kế khoang hành khách đặc biệt

Tăng số lượng hành khách trên chuyến bay nhằm tăng hiệu quả kinh tế của một chuyến bay luôn là một vấn đề mang tính cạnh tranh trong ngành công nghiệp hàng không.[82]. Năm 2001, British Airways là hãng hàng không đầu tiên giới thiệu kiểu thiết kế 10 hàng ghế trong khoang hạng phổ thông trên máy bay Boeing 777 mà trước đó nó chỉ được thiết kế 9 hàng ghế.[83] This utilised specially built narrow seats and aisles,[84] và được áp dụng cho 3 chiếc Boeing 777-200ERs trên các chuyến bay tới Carribbean,sau British Airways, thiết kế khoang hành khách kiểu này cũng được các hãng Emirates Airline, Air France, KLM và China Southern Airlines áp dụng. Tuy nhiên sau đó, British Airways lại không sử dụng thiết kế này và quay lại với kiểu thiết kế 9 hàng ghế truyền thống.

Quy định về chỗ ngồi

Tháng 03-2001, British Airways đưa ra quy định mới về sắp xếp chỗ ngồi trên khoang, theo đó hành khách nam sẽ không được xếp ngồi cạnh trẻ em khi trẻ em đó không có người giám hộ ngồi cạnh, cho dù người giám hộ đó ngồi đâu đó trên khoang[85]

Phòng chờ hạng thương gia

British Airways Concorde Room at Heathrow Terminal 5ABritish Airways khai thác nhiều loại phòng chờ khác nhau dành cho hành khách sử dụng dịch vụ hạng thương gia hoặc các thành viên của chương trình khách hàng thường xuyên. [86]. Phòng chờ “Concorde Room” tại nhà ga số 7, sân bay quốc tế John F. Kennedy sẽ được nâng cấp lại theo chuẩn của Concorde Room tại nhà ga 5A, sân bay London Heathrow. Phòng chờ hạng nhất sẽ được thay thế bằng phòng chờ với tên gọi “Galleries First”. Các phòng chờ Terraces và Executive Club sẽ được thay thế bằng “Galleries Club”. Gate 1 tại nhà ga số 4, sân bay London Heathrow đóng cửa vào ngày 29-10-2009 và 3 phòng chờ khác tại nhà ga này được chuyển sang nhà ga số 3. Tại các sân bay mà British Airways không khai thác phòng chờ hạng thương gia, hành khách sẽ sử dụng phòng chờ của đối tác thứ 3 của British Airways

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không AirAsia

AirAsia là một hãng hàng không giá rẻ có trụ sở ở Kuala Lumpur, Malaysia. Hãng này cung cấp những chuyến bay theo lịch trình nội địa và quốc tế và là hãng có giá vé thấp hàng đầu châu Á. Đây cũng là hãng hàng không đầu tiên trong khu vực sử dụng vé điện tử. AirAsia đã mở rộng nhanh chóng đã trở nên phổ biến với hành khách do có giá vé rẻ thường xuyên. AirAsia là hãng hàng không giá rẻ tốt nhất trên thế giới năm 2009 do Skytrax bình chọn. Cơ sở chính của hãng nằm tại Nhà ga hàng không giá rẻ (LCCT) ở Sân bay Quốc tế Kuala Lumpur (KUL).

Thành viên

Thai AirAsia: Thai AirAsia thành lập vào ngày 08.12.2003 . Từ 13.2.2004 , hãng này chính thức họat động tại Sân bay quốc tế Bangkok. Từ 25.09.2006 , hãng chính thức khai thác các đường bay quốc tế tại Sân bay quốc tế Suvarnabhumi .

Indonesia AirAsia: AirAsia nắm 49% của hãng hàng không này. Indonesia AirAsia chính thức họat động vào tháng 12.2004. Trụ sở chính của hãng được đặt tại Sân bay quốc tế Soekarno-Hatta (Jakarta – Indonesia).

AirAsia X: Họat động tại Malaysia . Khai thác các đường bay dài khởi hành từ Kuala Lumpur. Điểm đến hiện tại của AirAsia X bao gồm Gold Coast, Melbourne, Perth – Úc ; Hangzhou, Tianjin – Trung Quốc ; Taipei – Đài Loan ; London – Vương quốc Anh …

Các tuyến bay

AirAsia mỗi ngày khai thác hơn 500 chuyến bay quốc tế và nội địa, tới 66 thành phố tại :
Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Singapore, Brunei, Myanmar, Trung Quốc, Hongkong , Macau , Đài Loan , Việt Nam, Lào, Campuchia, Australia, Philippines , Ấn Độ , Bangladesh và Vương quốc Anh

Máy bay

Tính tới tháng 2 năm 2009, đội bay của AirAsia gồm có (bao gồm Thai AirAsia , AirAsia X và Indonesia AirAsia) :

  • Airbus A320-200 (180 ghế) : 58 máy bay
  • Boeing 737-300 (148 ghế) : 16 máy bay
  • Airbus A330-300 (383 ghế) : 1 máy bay của AirAsia X.
  • Airbus A340 (286 ghế) : 1 máy bay của AirAsia X.

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Air Mekong

Air Mekong là một hãng hàng không tại Việt Nam. Đây là hãng hàng không tư nhân thứ 3 của Việt Nam, sau VietJet Air và Indochina Airlines. Hãng đã chính thức đi vào hoạt động từ ngày 9 tháng 10 năm 2010.

Hình thành

Hãng này được hình thành từ nhiều nhà đầu tư Việt Nam mà đại diện là Công ty đầu tư phát triển sản xuất Hạ Long (Kiên Giang). Theo đề án ban đầu, hãng có tên là Phú Quốc Air, được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập theo đề nghị của Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang[1]. Tuy nhiên, đến tháng 10 năm 2008, trên giấy phép chính thức thành lập mang tên Công ty Cổ phần Hàng không Mê Kông, tên giao dịch là Mekong Aviation Joint Stock Company, với vốn điều lệ là 200 tỷ đồng.

Điểm đến

  • Việt Nam
  • Buôn Ma Thuột (Sân bay Buôn Ma Thuột)
  • Côn Đảo (Sân bay Côn Đảo)
  • Đà Lạt (Sân bay quốc tế Liên Khương)
  • Đà Nẵng (Sân bay quốc tế Đà Nẵng)
  • Hà Nội (Sân bay quốc tế Nội Bài) Điểm đến quan trọng
  • Thành phố Hồ Chí Minh (Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất) Điểm đến quan trọng
  • Phú Quốc (Sân bay Phú Quốc) Trụ sở chính
  • Pleiku (Sân bay Pleiku)

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Air France

Air France (Compagnie Nationale Air France) là một công ty thành viên của Air France-KLM. Trước khi công ty này được sáp nhập vào KLM, nó là hãng hàng không quốc gia của Pháp, sử dụng 71.654 người (tháng Giêng năm 2005).

Tổng hành dinh của công ty tại Sân bay quốc tế Charles de Gaulle gần Paris; tổng hành dinh này ngày nay được hãng Air France-KLM sử dụng. Giữa tháng Tư năm 2001 và tháng Ba năm 2002, hãng này vận chuyển 43,3 triệu khách và đạt doanh thu 12,53 tỉ EURO. Công ty con của Air France, Régional, cung cấp các chuyến bay phản lực trong vùng và turboprop trong châu Âu

Liên minh Air France-KLM

Air France đã mua lại công ty KLM của Hà Lan tháng 5/2004, tạo ra hãng mới Air France-KLM. Air France-KLM là công ty hàng không lớn nhất thế giới về mặt doanh thu hoạt động, lớn thứ 3 thế giới (lớn nhất châu Âu) về lượng hành khách-km vận chuyển.

Air France-KLM là một thành viên của Liên minh SkyTeam với Aeroflot, Delta Air Lines,
Aeroméxico, Korean Air, Czech Airlines, Alitalia, China Southern Airlines, Kenya Airways, Air Europa, TAROM và Vietnam Airlines. Cả Air France và KLM tiếp tục bay dưới các tên thương hiệu riêng.

Lịch sử

Air France được thành lập ngày 7/10/1933 thông qua việc sáp nhập các hãng Air Orient,
Compagnie Générale Aéropostale, Société Générale de Transport Aérien (SGTA, công ty hàng không đầu tiên của Pháp, thành lập với tên Lignes Aériennes Farman năm 1919), Air Union và CIDNA (Compagnie Internationale de Navigation). Hãng đã có mạng lưới rộng lớn khắp châu Âu và các thuộc địa Pháp ở Bắc châu Phi và Đông Dương. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, Air France chuyển hoạt động đến Casablanca, Morocco; hãng này đã xuất hiện trong bộ phim nổi tiếng Casablanca.

Sau đệ nhị thế chiến, hãng này đã bị quốc hữu hóa và Societe Nationale Air France được thành lập ngày 1/1/ năm 1946. Compagnie Nationale Air France được thành lập bằng một đạo luật của quốc hội ngày 16/6 năm 1948. Chính phủ nắm giữ 70% công ty mới và giữa năm 2002 vẫn còn nắm giữ 54$ cổ phàn của hãng. Ngày 4/8 năm 1948, Max Hymans được bổ nhiệm làm chủ tịch của Air France. Trong 13 năm cầm quyền, ông đã thực thi chính sách hiện đại hoá dựa trên máy bay phản lực đặc biệt Sud Aviation Caravelle và Boeing 707. Năm 1949 công ty này là một trong những sáng lập viên của SITA (Société Internationale de Télécommunications Aéronautiques). Hãng đã sử dụng De Havilland Comet trong một thời gian ngắn từ năm 1953, nhưng đã sớm thay bằng Vickers Viscount. Năm 1959 hãng đã bắt đầu sử dụng rộng rãi máy bay phản lực thanh lịch 2 động cơ Sud Aviation Caravelle. Sau đó hãng vẫn sử dụng máy bay Boeing, nhưng cũng giống như nhiều hãng hàng không châu Âu khác, hãng bắt đầu cam kết sử dụng máy bay Airbus từ
năm 1974.

Năm 1976, hãng đã bắt đầu sử dụng máy bay siêu thanh Concorde SST tại Paris-Charles de Gaulle trên tuyến đi New York cũng như một số tuyến khác. Thời gian bay từ New York đến Paris bằng loại máy bay này là 3h20, nhanh gấp đôi tốc độ âm thanh.

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Air China

Air China hay Hãng hàng không quốc tế Trung Quốc (SEHK: 0753) (LSE:AIRC) là hãng hàng không quốc doanh lớn thứ hai ở Trung Quốc, sau hãng China Southern Airlines. Đây là hãng hàng không quốc gia và là hãng hàng không duy nhất mang cờ Trung Quốc trên toàn bộ đội tàu bay của mình. Sân bay trung tâm của hãng là Sân bay quốc tế Thủ Đô Bắc Kinh và Sân bay quốc tế Phố Đông-Thượng Hải, với các thành phố chính khác tại Sân bay quốc tế Tiêu Sơn Hàng Châu, Sân bay quốc tế Giang Bắc Trùng Khánh, Sân bay quốc tế Tân Hải Thiên Tân và Sân bay quốc tế Bạch Tháp Hô Hòa Hạo Đặc. Năm 2006, hãng đã vận chuyển 33,97 triệu lượt khách với tỷ lệ ghế đạt 75,9%, lợi nhuận đạt 2,7 tỷ nhân dân tệ và doanh thu hoạt động đạt 44,9 tỷ nhân dân tệ và chi phí 42,4 tỷ nhân dân tệ. Air China cũng được Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (IATA) công nhận với IOSA (IATA Operations Safety Audit) cho các hoạt động an toàn của hãng.

Aircraft_Air_China_747

Các hãng có thỏa thuận chia chỗ

Đến tháng 3 năm 2007, Air China có các thỏa thuận chia chỗ với các hãng sau:

  • Air Algerie
  • Air Macau
  • Alitalia
  • All Nippon Airways (ANA)
  • Asiana Airlines
  • Austrian Airlines
  • Avianca
  • Cathay Pacific Airways
  • Dragonair
  • Finnair
  • Korean Air
  • Kuwait Airways
  • LOT Polish Airlines
  • Lufthansa
  • Qatar Airways
  • Qantas
  • Scandinavian Airlines System (SAS)
  • Shandong Airlines
  • Shanghai Airlines
  • Turkish Airlines
  • United Airlines
  • Virgin Atlantic Airways

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Air Canada

Air Canada là hãng hàng không lớn nhất và cũng là hãng hàng không quốc gia của Canada. Hãng này được thành lập năm 1937 và có trụ sở ở Montréal, Québec. Air Canada cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa bằng đường hàng không theo lịch trình và thuê bao đến hơn 240 điểm đến và các kỳ nghỉ trọn gói đến hơn 90 điểm đến thông qua Air Canada Vacations. Air Canada là hãng hàng không lớn thứ 13 thế giới theo quy mô đội tàu bay và sân bay họat động chính trung tâm của hãng này là Sân bay quốc tế Toronto Pearson. Công ty mẹ của Air Canada là ACE Aviation Holdings. Air Canada là một thành viên sáng lập của liên minh các hãng hàng không Star Alliance, liên minh các hãng hàng không lớn nhất thế giới. Liên minh này được thành lập năm 1997 và hiện có 18 hãng hàng không thành viên. Vào ngày 19 tháng 1 năm 2007, hãng Air Canada đã được bầu chọn là Hãng hàng không tốt nhất Bắc Mỹ. Năm 2006, khoảng 34 triệu người đã bay cùng Air Canada.

Năm 2007, Air Canada kỷ niệm 70 năm ngày thành lập hãng thành một hãng hàng không.

Các trạm trung chuyển chính:

  • Sân bay quốc tế Toronto Pearson
  • Sân bay quốc tế Montreal-Pierre Elliott Trudeau
  • Sân bay quốc tế Vancouver
  • Sân bay quốc tế Calgary

Các điểm đến quan trọng:

  • Sân bay quốc tế Halifax Stanfield
  • Sân bay quốc tế Ottawa

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Hãng hàng không Aeroflot

Công ty hàng không Nga Aeroflot (tiếng Nga: Аэрофлот — Российские авиалинии Aeroflot – Rossijskie Avialinii), hay Aeroflot (Аэрофлот; nghĩa là “phi đội”), là công ty hàng không quốc gia Nga và là hãng vận chuyển lớn nhất nước Nga. Hãng có trụ sở tại Moskva và điều hành các tuyến bay chở khách nội địa và quốc tế tới gần 90 thành phố tại 47 quốc gia. Sân bay chính là Sân bay Quốc tế Sheremetyevo, Moskca

Hãng là một thành viên của Liên minh SkyTeam. Đây cũng từng là công ty hàng không quốc tế của Liên bang Xô viết và từng là hãng hàng không lớn nhất thế giới. Các trụ sở hãng gần Aerostar Hotel, trung tâm Moskva

Lịch sử

Năm 1921, một thời gian ngắn sau khi Nội chiến Nga chấm dứt, chính phủ mới đã thành lập Cơ quan Quản lý Phi đội Hàng không Dân dụng để giám sát các dự án vận tải hàng không mới. Một trong những hoạt động đầu tiên của nó là hỗ trợ thành lập Deutsch-Russische Luftverkehrs (Deruluft), một công ty liên doanh Đức-Nga cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng không từ Nga sang phương Tây. Dịch vụ bay trong nước cũng bắt đầu cùng thời điểm này, khi công ty Dobrolyot được thành lập ngày 9 tháng 2 năm 1923. Nó bắt đầu hoạt động ngày 15 tháng 7 năm 1923 giữa Moskva và Nizhni Novgorod. Ngày 25 tháng 2 năm 1932 tất cả các hoạt động hàng không dân dụng được quy về Grazhdanskiy Vozdushnyy Flot (Phi đội Hàng không Dân dụng), được gọi tắt là Aeroflot. Các chuyến bay quốc tế bắt đầu năm 1937; trước ngày đó chúng do Deruluft thực hiện.

Tới cuối thập niên 1930 Aeroflot đã trở thành hãng hàng không lớn nhất thế giới, sử dụng hơn 400.000 nhân viên và điều hành khoảng 4.000 máy bay. Nó trở thành hãng hàng không đầu tiên trên thế giới điều hành các chuyến bay phản lực thường xuyên ngày 15 tháng 9 năm 1956 với chiếc Tupolev Tu-104

Trong thời kỳ Xô viết Aeroflot đồng nghĩa với hàng không dân dụng Nga. Một trong những
ví dụ hiếm hoi của quảng cáo thương mại Xô viết là khẩu hiệu của Aeroflot, “Bay trên những chiếc máy bay của Aeroflot!” (Летайте самолетами Аэрофлота!). Trớ trêu thay Aeroflot không có đối thủ cạnh tranh và rõ ràng đối với một công dân Xô viết bình thường việc bay trên một chiếc máy bay không phải của Aeroflot là không thể. Quảng cáo này được dự định để lôi kéo người dân sử dụng Aeroflot thay vì dịch vụ tàu hỏa rẻ tiền và chậm chạp hơn.

Tháng 1 năm 1971 Cơ quan Trung ương Aeroflot về Vận chuyển Hàng không Quốc tế được thành lập trong khuôn khổ IATA, và trở thành công ty duy nhất trong ngành công nghiệp này được điều hành các chuyến bay quốc tế. Ở nước ngoài, hãng này được gọi là Hãng hàng không Aeroflot Xô viết. Năm 1976 Aeroflot đã chuyên chở hành khách thứ 100 triệu. Các chuyến bay của hãng chủ yếu tập trung xung quanh Liên bang Xô viết, nhưng nó cũng có mạng lưới đường bay quốc tế phủ khắp năm châu: Bắc và Nam Mỹ, Châu Âu, Châu Phi và Châu Á. Mạng lưới này gồm các quốc gia như Hoa Kỳ, Canada, Anh Quốc, Tây Ban Nha, Cuba, Mexico và Trung Quốc. Từ thập niên 1970 một số chuyến bay liên lục địa được tiến hành sử dụng Sân bay Shannon tại Ireland làm điểm trung chuyển, bởi đây là sân bay xa nhất phía tây không thuộc NATO tại Châu Âu.

Aeroflot cũng tiến hành vô số các hoạt động khác, nó cung cấp dịch vụ y tế hàng không, hàng không nông nghiệp, vận chuyển hàng hóa nặng cho Cơ quan Vũ trụ Xô viết (xem Chương trình Vũ trụ Xô viết), hỗ trợ giàn khoan dầu ngoài khơi, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hỗ trợ các dự án xây dựng, vận chuyển quân và hậu cần (như bên phụ trợ của Không quân Xô viết), nghiên cứu khí quyển, tuần tra các vùng xa xôi. Ngoài số máy bay chở khách thông thường, hãng sở hữu hàng trăm máy bay trực thăng và máy bay vận tải. Hãng cũng điều hành chiếc máy bay tương tự Air Force One của Xô viết và các máy bay chuyên chở các nhân vật hàng đầu chính phủ và các quan chức Đảng Cộng sản. Aeroflot gia nhập IATA năm 1989.

Các chuyến bay vào và ra khỏi Hoa Kỳ của Aeroflot đã bị gián đoạn từ 15 tháng 9 năm 1983 tới 2 tháng 8 năm 1990 sau một chỉ thị hành chính của Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan thu hồi giấy phép hoạt tiến hành các chuyến bay vào và ra khỏi Hoa Kỳ của Aeroflot. (Xem Korean Air Flight 007 để biết thêm thông tin) Đầu thập niên 1990 Aeroflot đã tái tổ chức và trao nhiều quyền tự chủ hơn cho các bộ phận.

Năm 1992 hãng được chia thành hơn 300 công ty hàng không cấp vùng. Các đường bay quốc tế được điều hành riêng biệt bởi Hãng hàng không Quốc tế Aeroflot – Nga (ARIA). Một số công ty hàng không được thành lập từ cơ sở Aeroflot cũ đã đang hoạt động tại các quốc gia mới độc lập trong Cộng đồng Thịnh vượng chung các Quốc gia Độc lập — ví dụ, Uzbekistan Airways. Các hãng hàng không cấp vùng nhỏ hơn khác xuất hiện từ Aeroflot cũ — thỉnh thoảng với chỉ một chiếc máy bay — thỉnh thoảng được gọi là các “Babyflot”.

Năm 1994 Aeroflot được đăng ký lại thành công ty cổ phần và chính phủ đã bán 49% cổ phần của họ cho các nhân viên Aeroflot. Trong thập niên 1990 Aeroflot chủ yếu tập trung vào các chuyến bay quốc tế từ Moskva. Tuy nhiên, tới cuối thập kỷ Aeroflot đã bắt đầu mở rộng thị trường nội địa. Năm 2000 tên công ty được đổi thành Aeroflot — Hãng hàng không Nga để phản ánh sự thay đổi trong chiến lược của công ty.

Hành khách phương Tây nghe nói đến tiếp viên hàng không Aeroflot là rùng mình vì bị phục vụ kém và thức ăn dở. Ngoài ra cuối năm 2008 trong chuyến bay tại Moscow do viên cơ trưởng của Aeroflot say xỉn nên hành khách phản ứng. Người phát ngôn của hãng đã cho rằng cơ trưởng say rượu là “chuyện nhỏ” vì “máy bay có thể bay tự động!” và chỉ trích “tâm lý hốt hoảng của hành khách”.[2] Để thay đổi bộ mặt, hãng đã phải cử nhân viên sang Singapore để học và các tiếp viên thô lỗ đã bị đuổi.

Phát triển gần đây

Aeroflot đã cố gắng tạo hình ảnh mới về một hãng hàng không an toàn và đáng tin cậy, thuê các công ty tư vấn Anh trong lĩnh vực thương hiệu đầu thập niên 2000. Một màu sơn và đồng phục bay mới cho nhân viên được thiết kế và một chiến dịch quảng bá được tung ra năm 2003.

Những kế hoạch nhằm thoát hoàn toàn khỏi hình ảnh logo búa liềm thời Xô viết, vốn bị một số người phương Tây coi là thứ gợi nhớ đến hình ảnh thời Xô viết cũ, cũng đang được tiến hành. Tuy nhiên, một cuộc điều tra khách hàng cho thấy đây là biểu tượng được biết đến nhiều nhất của công ty, và vì vậy họ đã quyết định giữ lại nó.

Aeroflot cũng đã tăng cường phi đội của mình với những chiếc máy bay phương Tây. Họ có tổng cộng 24 máy bay phản lực A320/A319 cho những tuyến đường ngắn tại Châu Âu và 11 máy bay Boeing 767 cho những tuyến bay dài. Tổng số máy bay là 93 chiếc. Hãng chuyên chở 5,9 triệu hành khách năm 2003.

Mùa thu năm 2004 hàng hàng không đã bắt đầu một chương trình mở rộng thị trường nội địa đầy tham vọng với mục tiêu giành 30% thị phần vào năm 2010 (tới 2006 họ chỉ nắm khoảng 9%). Nhiệm vụ đầu tiên là vượt mặt đối thủ cạnh tranh chủ chốt S7 Airlines, hãng đứng đầu trong thị trường hàng không nội địa Nga. Ngày 29 tháng 7 năm 2004 công ty đã đưa ra khẩu hiệu mới: “Trân trọng. Aeroflot”.

Ngày 14 tháng 4 năm 2006 Aeroflot trở thành hãng hàng không đầu tiên tại Liên bang Xô viết cũ gia nhập liên minh quốc tế (SkyTeam; một cách khác là gia nhập Star Alliance). Hãng cũng sẽ có sân bay chính tại Sân bay quốc tế Sheremetyevo được gọi là Ga 3 Sheremetyevo sẽ được hoàn thành vào tháng 11 năm 2007.

Công ty đã thông báo kế hoạch của mình nhằm tăng lượng hàng hóa chuyên chở. Họ đã đăng ký thương hiệu “Aeroflot Cargo” năm 2004. Cũng có một kế hoạch nhằm thay thế phi đội chở hàng gồm bốn chiếc DC-10s bằng sáu chiếc MD-11s bắt đầu từ cuối năm 2007.

Chính phủ Nga (tới tháng 3 năm 2007) sở hữu 51,17% cổ phần thông qua Rosimushchestvo, Liên đoàn Dự trữ Quốc gia 27% và nhân viên cùng các bên khác 19%, và có 14.900 nhân viên[1].

Năm 2006 Aeroflot chuyên chở 7.290.000 hành khách và 145.300 tấn thư và hàng hoá tới 89 địa điểm tại 47 nước.

Mở rộng phi đội

Năm 1993 Aeroflot bắt đầu sử dụng máy bay Ilyushin Il-96-300 trên tuyến Moskva-New York. Công ty hiện điều hành 6 chiếc loại này – khoảng một nửa số Il-96 đang hoạt động thương mại trên toàn thế giới – và dự định mua thêm 6 chiếc nữa nếu Nhà nước Nga cho phép họ không trả trả khoản thuế nhập khẩu cho những chiếc máy bay phương Tây. Các chuyên gia trong ngành công nghiệp cho rằng hãng hiện đang tìm cách hủy bỏ hợp đồng với Ilyushin bởi sử dụng những chiếc Il-96 không có lợi ích kinh tế.

Năm 2006 hãng đã thuê 3 chiếc Boeing 767-300ER đã sử dụng từ ILFC trong 5 năm. Hai
chiếc đầu tiên được chuyển giao tháng 11 năm 2006 và tháng 1 năm 2007, chiếc thứ 3 được dự định vào tháng 3 năm 2007. Trước đó công ty này đã thuê 2 chiếc Boeing  767-300ER từ ILFC.

Tới năm 2007, Aeroflot đang trong quá trình đại tu lại cơ cấu phi đội của mình. Những chiếc Tupolev 134 và Tupolev 154 già cỗi đang hoạt động trên những tuyến ngắn và trung bình sẽ bị loại bỏ, Tupolev 134 sẽ được thay bằng loại Sukhoi Superjet 100 còn chưa ra đời vào ngày 1 tháng 1 năm 2008, Tupolev 154 sẽ được thay thế bằng những chiếc Airbus 319/320/321 tới năm 2010[7].

Đối với những tuyến đường dài, công ty hiện đang đánh giá hai loại Boeing 787 và Airbus A350 như phương án thay thế cho Boeing 767, nhưng có lẽ loại Dreamliner sẽ được lựa chọn bởi nó đi vào hoạt động sớm hơn đối thủ của Airbus. Aeroflot có hợp đồng cho 22 chiếc Boeing 787 sẽ được giao hàng giai đoạn 2008-2010. Tuy nhiên, hãng đã hủy hợp đồng với Boeing và đặt hàng 22 chiếc A350 từ Airbus.

Sự việc lên tới đỉnh điểm tháng 9 năm 2006 khi Ban Giám đốc Aeroflot can thiệp cho hợp

đồng với Boeing. Không may cho Boeing, sự kiện này trùng khớp với thời điểm Hoa Kỳ áp đặt trừng phạt với nhiều công ty Nga (gồm cả công ty sản xuất máy bay Sukhoi) vì cái gọi là cungcấp thiết bị cho Iran vi phạm vào Luật không phổ biến vũ khí hạt nhân cho Iran năm 2000 của nước này và với với công ty Vneshtorgbank thuộc sở hữu Nhà nước Nga mua 5% cổ phần trong EADS, vì thế công ty này ủng hộ Airbus. Những đại diện nhà nước trong Ban giám đốc bỏ phiếu trắng và một chiến dịch lobby mới được tiến hành, với nhiều nguồn tin Nga cho biết những nỗ lực của Aeroflot nhằm xoa dịu nhà nước bằng cách đưa ra đặt hàng cho cả 22 chiếc Boeing 787 và 22 chiếc Airbus 350, nhân gấp đội phi đội đường dài của họ. Chủ ngân hàng Alexander Lebedev, người đứng sau Liên đoàn Dự trữ Quốc gia, đã đạt được một thỏa thuận với Boeing để kéo dài thời hạn quyết định, sử dụng tiền từ liên minh của ông[1]. Tuy nhiên, cuối cùng hợp đồng cũng đã đổ vỡ. Từ đó Lebedev luôn đe dọa kiện Nhà nước ra trước tòa án, đưa ra những con số thiệt hại với Aeroflot lên tới 200 triệu dollar Mỹ.

  • Ngày 22 tháng 3 năm 2007, Aeroflot đã ký kết một thỏa thuận với Airbus về việc giao hàng 22 chiếc Airbus 350-800/900 XWB bắt đầu từ năm 2014[8].
  • Mười chiếc Airbus A330-200 cũng đã được đặt hàng để đi vào hoạt động từ cuối năm 2008 để tăng tạm thời năng lực vận chuyển

(Theo Wikipedia tiếng Việt)

Xem Thêm

Airbus A380

Airbus A380 là một loại máy bay hai tầng, bốn động cơ do Airbus S.A.S. sản xuất. Nó bay thử lần đầu tiên vào ngày 27 tháng 4 năm 2005 từ Toulouse, Pháp. Sau 15 tháng thử nghiệm, đã bắt đầu có các chuyến bay thương mại vào đầu năm 2007 khi Airbus chuyển giao máy bay đầu tiên để đi vào sử dụng cho Singapore Airlines. Trong hầu hết quá trình thiết kế và chế tạo, chiếc máy bay này được gọi là Airbus A3XX, và tên hiệu Superjumbo cũng đã trở thành một tên gọi khác của A380. Ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác, các phương tiện truyền thông đại chúng lẫn các chuyên gia ngành kỹ thuật, hàng không còn đặt biệt danh khác cho loại máy bay này là “Khách sạn bay 5 sao” vì đây là loại máy bay dân dụng duy nhất trên thế giới có các phòng ngủ với giường nệm, nhà hàng, quầy bar, phòng tắm spa, phòng giải trí sang trọng, các TV LED tại các phòng và các ghế hành khách với hơn 500 kênh truyền hình trên toàn thế giới, hơn 1000 game 3D và hàng chục nghìn bài hát, bản nhạc, phim ảnh được lưu trữ trên máy bay, hệ thống mạng Wifi tốc độ cao, khe cắm USB kết nối với máy tính, khe cắm phích sạc pin điện thoại để phục vụ mục đích giải trí và làm việc.

Máy bay A380 có hai tầng, với tầng trên kéo dài toàn bộ chiều dài của thân máy bay. Điều này cho phép một khoang cabin rộng rãi, cấu hình tiêu chuẩn với ba cấp hành khách có thể đạt sức chứa 555người, tối đa là 853 người nếu chỉ có các hành khách thông thường (economy class).

Có hai kiểu A380 sẽ được đưa vào sử dụng. Loại A380-800, loại chở hành khách, là máy bay chở khách lớn nhất thế giới , lớn hơn cả Boeing 747[2]. Loại thứ hai, A380-800F, sẽ là máy bay vận tải, là một trong những máy bay vận tải lớn nhất thế giới sau Antonov An-225, An-124 và C-5 Galaxy. Phiên bản mới nhất do Airbus công bố (2010) là A380-900 với kích cỡ lớn hơn phiên bản A380-800 và sức chuyên chở hành khách tối đa lên đến hơn 900 hành khách.

Máy bay A380-800 có tầm bay xa cực đại là 16.000 km (8.000 mi) đủ để bay không nghỉ từ Chicago đến Sydney, và một tốc độ bay bình thường khoảng Mach 0,85 (1.050 km/h)[2], giống như máy bay Boeing 747.

Bối cảnh

Mùa hè năm 1988, một nhóm các kỹ sư của hãng Airbus được lãnh đạo bởi Jean Roeder đã bí mật bắt đầu việc nghiên cứu và phát triển một siêu máy bay chở khách (UHCA), với hai mục tiêu là để hoàn thiện danh mục các sản phẩm của Airbus cũng như đánh đổ sự thống trị của Boeing trong phân khúc thị trường này với mẫu Boeing 747. Khác với MacDonnell Douglas trong việc thương mại hóa mẫu máy bay nhỏ hai boong MD-12 Roeder đã được chấp thuận bởi UHCA cho các nghiên cứu tiếp theo sau một bài thuyết trình chính thức tới Chủ tịch và Giám đốc điều hành của hãng vào tháng 06/1990. Dự án được công bố tại Farnborough Air Show năm 1990, với mục tiêu được nêu là sẽ giảm bớt 15% chi phí vận hành so với mẫu Boeing 747 cùng loại. Airbus đã tổ chức bốn nhóm thiết kế, từ bốn đối tác của EADS (Aérospatiale, DaimlerChrysler Aerospace,. British Aerospace, EADS CASA) cùng nghiên cứu và đề xuất những công nghệ tiên tiến nhất để áp dụng cho mẫu máy bay mới trong tương lai. Các mẫu thiết kế sẽ được trình bày trong năm 1992 và những thiết kế xuất sắc nhất sẽ được sử dụng.
Tháng 1/1993, Boeing và một số công ty trong tập đoàn của Airbus đã bắt đầu một nghiên cứu và phát triển chung một mẫu siêu máy bay chở khách cơ lớn nhằm mục tiêu hình thành một quan hệ đối tác để chia sẻ thị trường hạn chế. Nghiên cứu đã bị huỷ bỏ hai năm sau đó, lãi suất của Boeing cũng bị giảm sút.
Trong tháng 6/1994, Airbus đã bắt đầu phát triển riêng cho mình một mẫu máy bay chở khách cỡ lớn, thuộc phân hạng A3XX. Airbus đã nghiên cứu một số mẫu thiết kế, bao gồm cả sự kết hợp hai từ thân máy bay A340, mẫu máy bay phản lực lớn nhất của Airbus tại thời điểm đó. Các A3XX được thiết kế để chạnh tranh với nghiên cứu của Boeing và mẫu máy bay 747 rất thành công. Từ 1997-2000, khi cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á đã phủ bóng đêm lên toàn bộ thị trường, Airbus đã thay đổi thiết kế với mục tiêu giảm từ 15-20% chi phí vận hành hiện tại trên các máy bay Boeing 747-400. Thiết kế A3XX bao gồm hai boong, cho phép chuyên chở được nhiều hành khách hơn so với thiết kế một boong truyền thống.

Các giai đoạn thiết kế

Ngày 19/12/2000, Ban giám sát mới được tái cơ cấu của Airbus đã thống nhất chương trình xây dựng A3XX trị giá 8,8 tỷ euro, đổi tên mẫu máy bay mới là A380, với 50 đơn đặt hàng từ sáu công ty khách hàng. Thiết kế của A380 là sự thay đổi lớn so với các thành viên còn lại của Airbus, là kết quả của việc phát triển từ mẫu A300 đến A340. Nó đã được lựa chọn bởi vì số 8 giống với mục chéo hai sàn tàu, và là con số may mắn theo quan niệm của một số nước chau Á, thị trường mục tiêu của A380. Các tính năng của A380 đã được hoàn thiện vào đầu năm 2001, bộ phận cánh của máy bay được bắt đầu đưa vào sản xuất vào ngày 23/1/2002. Chi phí phát triển của A380 là đã tăng lên đến 11 tỷ euro tính cho đến khi chiếc máy bay đầu tiên được xuất xưởng.

Thử nghiệm

Chiếc A380 đầu tiên, số MSN001 và đăng ký F-WWOW , đã được công bố tại một buổi lễ ở Toulouse ngày 18 tháng 1 năm 2005. Chuyến bay đầu tiên của nó diễn ra lúc 08:29 UTC (10:29 giờ địa phương) ngày 27 Tháng Tư năm 2005. Chiếc máy bay này được trang bị động cơ Trent 900, cất cánh từ Sân bay quốc tế Toulouse Blagnac với một phi hành đoàn gồm sáu phi công thử nghiệm chính do Jacques Rosay điều khiển. Và hạ cánh thành công sau ba giờ và 54 phút sau thử nghiệm. Ngày 01 tháng 12 năm 2005 của A380 đạt được tốc độ thiết kế tối đa Mach 0,96 (so với tốc độ bay bình thường là Mach 0,85). Ngày 10 tháng một năm 2006 của A380 đã vượt Đại Tây Dương đầu tiên chuyến bay đến Medellín ở Colombia , để kiểm tra hiệu suất động cơ tại một sân bay độ cao lớn . Nó đã bay đến Bắc Mỹ vào ngày 06 tháng hai, hạ cánh tại Iqaluit , Nunavut ở Canada đễ thử nghiệm trong thời tiết lạnh.
Airbus đã công bố thay đổi thêm 30 kg cho cánh để cung cấp sức mạnh cần thiết sau lượt kiểm tra không thành công hồi đàu năm 2006. Ngày 26 tháng 3 2006 A380 đã trải qua chứng nhận sơ tán ở Hamburg . Với 8 trong số 16 thoát khỏi bị chặn, 853 hành khách và phi hành đoàn 20 rời máy bay trong 78 giây, ít hơn 90 giây yêu cầu của tiêu chuẩn chứng nhận. Ba ngày sau, A380 đã nhận được phép từ Cơ quan An toàn Hàng không châu Âu (EASA) và Cục Hàng không liên bang Hoa Kỳ(FAA) phê duyệt để thực hiện lên đến 853 hành khách. Các chuyến bay đầu tiên của A380 đầu tiên sử dụng GP7200 , số serial động cơ MSN009 và đăng ký F-WWEA -diễn ra vào ngày 25 Tháng 8, 2006. Vào ngày 04 tháng chín năm 2006, lần đầu tiên mang đầy đủ hành khách chuyến bay thử nghiệm đã diễn ra. Chiếc máy bay đã bay từ Toulouse với 474 nhân viên Airbus trên tàu, trong các đầu tiên của một loạt các chuyến bay để kiểm tra các cơ sở hành khách và thoải mái. Trong tháng 11 năm 2006 một loạt hơn nữa của các tuyến đường bay minh đã diễn ra để chứng minh máy bay thực hiện của các đối 150 chuyến bay giờ theo điều kiện hoạt động hàng không điển hình.

Sản xuất

Phần lớn cấu trúc của A380 được chế tạo tại Pháp, Đức, Tây Ban Nha, và Vương quốc Anh. Do kích thước rất lớn nên các bộ phận của A380 được vận chuyển đến lắp ráp tại xưởng của Airbus tại Toulouse, Pháp bằng tàu thủy, mặc dù một số phần được chuyển bằng A300-600ST Beluga, máy bay được sử dụng trong việc xây dựng các mẫu Airbus khác. Các bộ phận của A380 được cung cấp bởi các nhà cung cấp từ khắp nơi trên thế giới; năm nhà cung cấp lơn nhất tính theo giá trị là Rolls-Royce, SAFRAN, United Technologies, General Electric, và Goodrich .
Các phần phía trước và phía sau của thân máy bay được chuyển lên tàu vận tải của Airbus bằng trục lăn, cảng Ville de Bordeaux, tại Hamburg ở miền bắc nước Đức, từ đó họ được chuyển đến Vương quốc Anh . Cánh của máy bay được sản xuất tại Filton ở Bristol và Broughton, miền bắc xứ Wales; được vận chuyển bằng sà lan đến cảng Mostyn và sau đó được chuyển lên các tàu chở hàng. Tại Saint-Nazaire ở phía Tây nước Pháp, các tàu chở những phần thân của máy bay từ Hamburg đẻ lắp ráp lại với nhau. Trong đó bao gồm cả một số bộ phận ở mũi máy bay. Sau đó các bộ phận này được chuyển đến và dỡ xuống cảng Bordeaux. Các tàu này tiếp tục bốc các phần bụng và đuôi của máy bay tại nhà máy Construcciones Aeronáuticas SA tại Cádiz phía Nam của Tây Ban Nha và sau đó lại chuyển về cảng Bordeaux. Airbus sized the production facilities and supply chain for a production rate of four A380s per month. Từ đó, các bộ phận A380 được vận chuyển bằng sà lan đến Langon và được vận chuyển đến điểm láp ráp cuối cùng tại Toulouse. Các tuyến đường và kênh đào để vận chuyển các bộ phận của A380 đều đã được mở rộng và sử chữa. Sau khi hoàn thành công đoạn lắp ráp, nó sẽ bay đến sân bay Hamburg Finkenwerder (XFW) để được hoàn thiện và sơn. Mất khoảng 3600 lít sơn để che phủ 3.100 m2 bên ngoài của A380. Năng lực sản xuất A380 là vào khoảng 04 chiếc mỗi tháng.

Các đặc điểm

Các đặc điểm tổng quát
Phi hành đoàn: 2
Khả năng chuyên chở: 555 trong 3 cấp hay 853 hành khách 1 cấp, với 66,4 tấn (146.400 lb) hàng hoá trong 38 LD3 hay 13 pallet
152,4 tấn (336.000 lb) hàng hoá (158 t option)
Động cơ: 4×311 kN (70.000 lbf) turbofan. Hoặc Rolls-Royce Trent 900 hay là Engine Alliance GP7200
4×340 kN (76.500 lbf)
Kích thước
Dài: 73 m (239 ft 6 in)
Sải cánh: 79,8 m (261 ft 10 in)
Cao: 24,1 m (79 ft 1 in)
Diện tích cánh: 845 m² (9.100 ft²)
Trọng lượng và dung tích nhiên liệu
Trọng lượng lúc trống: 276.800 kg (610.200 lb)
252.200 kg (556.000 lb)
Trọng lượng tối đa lúc cất cánh: 560.000 kg (1.235.000 lb)
590.000 kg (1.300.000 lb)
Nhiên liệu chứa tối đa: 310.000 litres (81.890 US gal)
310.000 l (352.000 l option)
Vận hành
Tốc độ bay bình thường: 0.85 Mach (khoảng 1050 km/h, 647 mph, 562 kt)
Tốc độ bay tối đa: 0,89 Mach
Tầm xa: 16.000 km (8.000 nmi)
10.400 km (5.600 nmi)
Độ cao phục vụ: 13.100 m (43.000 ft)

HÃNG HÀNG KHÔNG NĂM ĐƯA VÀO SỬ DỤNG KIỂU ĐỘNG CƠ
A380-800 A380-800F LỰA CHỌN EA RR
Flag of France.svg  Air France 2008 10 4 *
Flag of the People's Republic of China.svg  China Southern Airlines 2011 5 *
Flag of the United Arab Emirates.svg  Emirates 2008
43 *
Flag of the United Arab Emirates.svg  Etihad Airways 2012 4 *
Flag of India.svg  FedEx 2010
10 10 *
Flag of India.svg  ILFC 5 5 4
Flag of Germany.svg  Kingfisher Airlines 2012 5
Flag of Malaysia.svg  Korean Air 2009 5 3 *
Flag of Australia.svg  Lufthansa 2008 15 10 *
Flag of Qatar.svg  Malaysia Airlines 2010 6 *
Flag of Singapore.svg  Qantas 2009 12 10 *
Flag of Thailand.svg  Qatar Airways 2009 2 2
Flag of the United Kingdom.svg  Singapore Airlines 2007 10 15 *
Flag of Thailand.svg Thai Airways International Năm 2012 đến 2015 6
Flag of India.svg  UPS 2011 10 10
Flag of the United Kingdom.svg Virgin Atlantic 2012 6 6 *
CỘNG 138 25 74 72 63
TỔNG 163 135
Xem Thêm
Gọi ngay